Ông Lão
“Nilly, em nghiêm túc đấy chứ? Có... có nhất thiết phải làm thế này không?”
“Dĩ nhiên rồi! Có ai vừa bắt đầu mà đã quen ngay được đâu.”
“Nhưng mà, chuyện này thì...”
Dường như đã tiên liệu được nỗi xấu hổ đang chờ chực phía trước, Annie ngập ngừng bỏ lửng câu nói.
“Gì chứ. Cứ làm đi rồi sẽ ổn thôi mà. Hiện tại chị vẫn đang ở mức âm đấy, phải nỗ lực để tiến về con số không đi chứ!”
Vẫn với vẻ thẹn thùng, Annie khẽ túm lấy vạt áo để che đi những đường cong trên cơ thể, em lắc đầu nguầy nguậy.
“...Mặc bộ đồ thế này rồi nhảy múa giữa sân thì chẳng ai thấy thoải mái được đâu.”
Nghe vậy, Nilly tỏ vẻ hốt hoảng, con bé xua tay lia lịa:
“Sao chị lại gọi là ‘bộ đồ thế này’ chứ! Khoác lên mình chiếc váy xinh đẹp nhường này thì không được nói lời như vậy đâu. Chẳng phải đây là bộ đồ mà anh U đã chọn cho chị sao?”
“Thì đúng là vậy, nhưng mà...”
“Thế thì được rồi. Nào, mau ra ngoài thôi! Phải tập cho quen với bộ váy này, và cả những ánh mắt nhìn mình nữa!”
Bị Nilly đẩy mạnh sau lưng, Annie loạng choạng bước ra khỏi cánh cửa chính đang mở toang.
“Khoan, khoan đã! Nilly... ực.”
Ngay khoảnh khắc luồng không khí lạnh lẽo bên ngoài ùa vào cơ thể, Annie như đông cứng lại. Em hốt hoảng nhìn quanh quất xem có người qua đường nào không.
“Anh U cũng ra đây đi chứ. Anh định để chị ấy đứng ngẩn ngơ một mình ngoài đó sao?”
Thật sự, con bé này có cái tài khiến người khác phải thuận theo ý mình. Nhìn cách nó xoay xở, tôi chợt nghĩ liệu những người làm chính trị có giống như vậy không.
Bước ra ngoài sân, tôi cũng đưa mắt nhìn quanh. Khiêu vũ ở một nơi mà ai cũng có thể trông thấy thế này, quả thực cảm giác bị quan sát từ một nơi nào đó không xác định mang lại áp lực không nhỏ.
May mắn là lúc này chưa có ai qua lại. Nghĩ bụng nên tranh thủ kết thúc nhanh rồi vào nhà, tôi hơi vội vàng nắm lấy tay Annie.
“Hở, Jack?”
Đang mải nhìn ra phía lòng đường, Annie giật mình nảy người, nhưng rồi em nhanh chóng đáp lại bằng cách nắm lấy tay tôi một cách dịu dàng.
“Jack dẫn dắt em nhé. Đầu óc em giờ đang trống rỗng chẳng nghĩ được gì cả...”
Chỉ cần nhìn vào đôi mắt em, tôi cũng đủ hiểu điều đó.
Tôi bắt đầu di chuyển một cách cẩn trọng nhưng có phần gấp gáp. Trong cơn căng thẳng, Annie cũng đáp lại tôi bằng những động tác mang theo sự vội vã.
“Nhìn xem, vẫn chưa quen đúng không? Nếu cứ thế mà đi dự tiệc thì chắc chắn hai người chỉ biết đứng nghệt mặt ra nhìn nhau thôi.”
Dù không muốn thừa nhận, nhưng nhìn vào tình cảnh hiện tại, tôi biết Nilly nói chẳng sai chút nào.
Tuy nhiên, con người ta luôn có khả năng thích ứng.
Tại phố số 17, nơi rìa thành phố này, buổi sáng ở đây khác xa với sự nhộn nhịp dưới ánh mặt trời của khu trung tâm, người dân chẳng mấy khi đổ ra đường vào giờ này.
Nhờ vậy mà sự căng cứng nơi bàn tay Annie bắt đầu tan biến, những chuyển động của em cũng trở nên mềm mại, uyển chuyển hơn.
Dù đang khiêu vũ giữa sân nhà, nơi mà bất kỳ ai cũng có thể đứng sau hàng rào sắt kia để quan sát, Annie vẫn dần tìm lại được cảm giác của ngày hôm qua.
Em tự nhiên đặt tay lên lưng tôi, thậm chí còn lộ vẻ thư thái khi thực hiện một vòng xoay. Dáng vẻ ấy của em như muốn minh chứng cho việc thế nào là sự quen thuộc.
Thỉnh thoảng có người đi ngang qua khiến em hơi khựng lại, động tác có chút lỗi nhịp, nhưng chỉ sau một vài lần, em bắt đầu thích nghi dần với những ánh nhìn đó.
Sau khoảng ba mươi phút tập luyện, Nilly tỏ vẻ hài lòng, con bé vỗ tay đánh “chát” một cái.
“Tốt rồi! Chắc chừng này là đủ rồi đấy. Mọi người vất vả rồi.”
Như chỉ chờ có thế, Annie dừng ngay động tác, rồi từ từ buông tay tôi ra với vẻ luyến tiếc hiện rõ.
Việc cùng lúc cảm nhận hai luồng cảm xúc trái ngược nhau như thế, suy cho cùng, có lẽ cũng không phải là chuyện gì quá lạ lẫm.
Đến tầm trưa, trời đổ mưa.
Cơn mưa không quá dữ dội nhưng cũng đủ để ngăn bước chân người ra ngoài nếu không có ô.
Annie đang bị Nilly “cưỡng chế” phải làm thân với Dolores, còn bà Jerry thì đang lật giở từng trang mỏng của một cuốn sách không có tựa đề.
“Không biết Norton có mang theo ô không nhỉ?”
Bà Lucy lẩm bẩm một mình rồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Có lẽ với bà, cơn mưa mà Norton đang phải hứng chịu khi không có ô chẳng khác nào một trận bão tố cuồng phong.
“Bà có biết ông ấy đi đâu không ạ?”
“Chịu thôi. Nó chẳng bao giờ nói cho bà biết là nó làm việc ở đâu cả. Nói ra thì có mất gì đâu, vậy mà cứ giấu giếm kỹ lắm.”
Vậy sao. Nếu vậy thì, có lẽ nào...
“Có thể hơi thất lễ, nhưng tôi xin phép hỏi bà một câu được không?”
“Cậu cứ khách sáo quá làm gì. Cứ tự nhiên đi!”
“Cha của bà... hiện giờ ông ấy đang ở đâu ạ?”
Bà khựng lại một chút. Gương mặt bà không hẳn là trở nên u ám, chỉ là dường như việc trả lời câu hỏi này khiến bà thấy hơi khó khăn.
“À, thì là nơi chúng tôi từng sống thôi. Có vẻ như ông ấy cảm thấy áp lực khi ở cùng chúng tôi.”
“Nơi từng sống sao ạ?”
“Ừ. Đó là một nơi đầy những căn nhà ván lụp xụp xếp thành hàng. Nếu cậu nhìn thấy, chắc cậu sẽ tự hỏi liệu đó có thực sự là nhà không đấy.”
Đúng vậy. Thực tế là tôi đã từng nghĩ như thế.
“...Tôi sẽ đi đưa ô cho ông ấy.”
“Hử? Không cần phải nhọc công thế đâu. Nó là đồ ngốc mà, không dễ bị cảm lạnh đâu.”
“Là đồ ngốc mà lại có thể làm bác sĩ sao ạ?”
“Thì đã bảo là đồ ngốc mà. Một kẻ khờ khạo chẳng biết gì về sự đời. Nhưng mà, tôi lại thích con người ông ấy như thế hơn.”
Nở một nụ cười nhẹ, bà đi về phía cửa chính rồi trao cho tôi hai chiếc ô.
“Trăm sự nhờ cậu nhé. Cứ tìm quanh đó chừng ba mươi phút, nếu không thấy thì cứ quay về. Nhớ nhé?”
“Tôi biết rồi.”
Băng qua khoảng sân đã bắt đầu sình lầy, tôi rời khỏi nhà và rảo bước trên con đường mà mình đã từng đi qua.
Men theo những con hẻm hẹp đến mức không thể mở toang chiếc ô mà phải khép bớt lại, sau vài lần rẽ, tôi đã đến được nơi quen thuộc.
Khu ổ chuột.
Trực giác mách bảo rằng nếu tìm quanh đây, tôi sẽ gặp được Norton, và linh tính ấy đã không sai.
Chỉ là nó xuất hiện theo một cách hơi khác so với tưởng tượng của tôi.
Ngay khi vừa bước vào ‘con đường lớn’ với những thứ đồ phế thải chất đống hai bên, tôi đã thấy Norton từ đằng xa đang chạy thục mạng về phía này.
Tất nhiên là ông ấy không có ô, và đôi mắt thì dao động dữ dội như thể đã mất đi lý trí.
Để mặc mái tóc ướt sũng, bết lại và dính chặt vào trán, ông ấy vừa chạy vừa thở dốc. Tôi chặn ông ấy lại và đưa chiếc ô ra.
“Ô đây ạ. Vợ ông đang rất lo lắng đấy.”
Ông ấy hổn hển nhìn tôi bằng đôi mắt trống rỗng, bàn tay run rẩy nắm chặt lấy vai tôi rồi chẳng nói chẳng rằng, ông quay đầu chạy ngược lại hướng vừa tới.
Ông ấy đang chìm trong nỗi sợ hãi tột cùng. Trái tim ông đập liên hồi như một đứa trẻ vừa mới lọt lòng, và một cảm giác hư vô như sắp mất đi tất cả đang bóp nghẹt lấy cổ họng ông.
“Có chuyện gì vậy? Ít nhất ông cũng phải nói một lời chứ...”
Tôi nhận ra việc nói thêm lúc này là vô nghĩa. Bởi lẽ chẳng có âm thanh nào lọt được vào tai ông ấy nữa rồi.
Cứ thế, tôi bị ông ấy kéo đi theo những bước chân vội vã trên con đường quen thuộc.
Norton dừng lại trước một căn nhà ván nát bươm, mái tôn phía trên trông có vẻ vừa mới được gia cố lại. Ông lao mình vào cái lỗ hổng nhỏ xíu được gọi là lối vào, rồi cõng một người bước ra.
Đó là một ông lão.
Cánh tay gầy gò đã hoàn toàn mất sạch sức lực buông thõng dưới vai Norton, cái đầu không còn chút ý thức cứ lắc lư không ngừng.
“Khi nào tôi mệt, cậu hãy cõng thay tôi. Chúng ta phải đến bệnh viện ngay.”
Ông ấy cuồng cuồng chạy về phía trước, có lẽ là hướng tới bệnh viện, nhưng tốc độ không còn được như lúc kéo tôi đi nữa.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt, và đôi môi run rẩy của Norton đã tố cáo việc lớp áo ướt sũng đang tước đi từng chút nhiệt lượng cuối cùng trên cơ thể ông.
“Ông hãy giải thích chuyện gì đang xảy ra đi.”
Cuối cùng thì tiếng nói của tôi cũng chạm đến tai ông ấy. Norton trả lời bằng một giọng nói run rẩy, đầy vẻ ngượng nghịu như thể không quen với việc thốt lên lời:
“Ông ấy bị ngất. Tôi đã linh cảm thấy chuyện này rồi, nhưng không ngờ nó lại xảy ra vào đúng hôm nay.”
Dù không rõ ngọn ngành câu chuyện, nhưng tôi cảm nhận được rõ ràng đây là tình huống vô cùng khẩn cấp đối với ông ấy.
“Để tôi cõng cho.”
Tôi đón lấy ông lão từ tấm lưng đang dần chậm lại của Norton và đưa lên lưng mình.
Ông lão rất nhẹ, nhẹ đến mức đáng ngạc nhiên.
Thế nhưng, trọng lượng của lớp quần áo sũng nước cộng với tư thế buông thõng hoàn toàn của ông lão khiến tôi phải tốn nhiều sức lực hơn so với cân nặng thực tế.
Norton chẳng buồn ngoái lại nhìn tôi, người đang cõng ông lão, mà cứ thế cắm đầu chạy tiếp. Tôi cũng dốc sức giữ vững nhịp độ để bám sát theo ông ấy.
Cứ thế, hai chúng tôi thay phiên nhau cõng ông lão, chạy không nghỉ bước cho đến khi tới được bệnh viện ở phố số 7.
“Xin chào, có chuyện gì...”
Người đàn ông ở quầy tiếp tân chưa kịp dứt lời đã vội vàng nhấc máy điện thoại quát lớn điều gì đó, rồi lao ra khỏi quầy, đỡ ông lão nằm xuống sàn.
“Hộc... hộc... hộc...”
Đôi chân run rẩy như sắp quỵ xuống, Norton ngồi bệt xuống cạnh ông lão, đờ đẫn nhìn vào đôi mắt đục ngầu đang co giật của ông.
“Tình trạng này diễn ra bao lâu rồi?”
“Khoảng bốn mươi phút. Tôi cũng không rõ chi tiết. Còn chỗ trống không?”
Chưa kịp nghe câu trả lời, vài người đã đẩy cáng thương tới và đặt ông lão lên.
Ngay khi họ vừa biến mất nhanh như lúc xuất hiện, người đàn ông ở quầy tiếp tân mới lên tiếng bằng giọng trấn an:
“Phòng 21. Theo đúng thủ tục thì chưa được, nhưng... nếu là ngài Norton thì chắc hẳn phải có lý do. Giờ chúng tôi sẽ bắt đầu tiến hành.”
Norton ra hiệu cho tôi đợi ở đó bằng một cái giơ tay, rồi ông ấy bước vào trong một cánh cửa như thể đã quá quen thuộc, chẳng cần đến sự dẫn đường của nhân viên.
Sau đó, sự tĩnh lặng bao trùm khắp căn phòng vốn vừa mới náo loạn, đến mức tôi có thể nghe thấy cả tiếng tích tắc trầm đục của con lắc đồng hồ treo tường.
Một lát sau, người đàn ông ở quầy tiếp tân quay lại và bắt chuyện với tôi:
“Cậu là người quen của ngài Norton sao?”
Câu hỏi đó, thật sự, chính là điều mà tôi cũng đang muốn hỏi đây.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
