Ngày Thứ Hai, Đêm
Gã chẳng thể nào tập trung vào việc nấu nướng được nữa. Đôi mắt gã cứ chốc chốc lại liếc về phía này, vừa thấp thỏm lo sợ người khác nghe thấy, vừa duy trì một vẻ hiếu kỳ xen lẫn căng thẳng tột độ.
Hòa vào những tạp âm ồn ã của quán trọ, tôi bắt đầu cuộc trò chuyện với âm lượng vừa đủ để nếu không tập trung sẽ chẳng tài nào nghe rõ.
“Hai kẻ đó là anh em. Tên là Cafe Terrace và Alma Terrace. Có vẻ chúng đã lẩn trốn vào ngôi làng này từ rất lâu rồi... cũng hoàn toàn có khả năng chúng đang che giấu thân phận thật sự.”
“Thật thú vị.”
“Anh đã nghe danh chúng bao giờ chưa? Đó là những tên trọng tội với số tiền thưởng lên đến mười ngàn Rudd đấy.”
“Chưa một lần nào. Đây là lần đầu tôi nghe thấy.”
“Quả nhiên là vậy. Có lẽ sau khi trốn đến đây, chúng đã cố tình ngăn chặn không để lệnh truy nã lọt vào làng. Cướp bóc, trấn lột, giết người. Sau khi vơ vét được một khối tài sản khổng lồ, theo lời đồn đại... chúng đã dùng số tiền đó để mở một trang trại.”
Đôi đồng tử của gã mở to. Dường như gã đã lờ mờ đoán ra điều gì đó, nhưng lại run rẩy chẳng dám thốt ra thành lời.
“Nếu vậy thì, lẽ nào.”
“Phải, đúng như anh nghĩ. Dù mới chỉ là suy đoán, nhưng tôi cũng cần thêm những bằng chứng xác thực. Anh nhìn cái này một chút đi.”
Lúc này, gã pha chế không còn thèm liếc trộm nữa mà xoay hẳn đầu ra khỏi đống dụng cụ nấu nướng. Gã giả vờ như đang quan sát xung quanh rồi bí mật mở tờ lệnh truy nã tôi đang giấu trong lòng áo ra.
“Đây là Cafe Terrace, còn đây là Alma Terrace.”
Động tác của gã khựng lại trong sát na, rồi gã vội vã dời mắt về phía bếp lò, tay chân bắt đầu luống cuống tiếp tục công việc.
“Anh thấy sao, anh bạn pha chế. Anh có thấy bọn chúng trông rất quen không?”
“...Tôi không biết gì cả. Tôi sẽ không nói chuyện này với bất kỳ ai đâu.”
“Hóa ra anh cũng nghĩ giống tôi. Thực ra lúc nãy tôi vừa mới gặp chúng xong, và chúng phản ứng cực kỳ nhạy cảm với cái tên ‘Terrace’. Chúng gào thét, đập phá đồ đạc, thậm chí còn vung roi quất túi bụi nữa.”
Một lần nữa, cái đầu gã lại từ từ xoay về phía này.
“Nhưng vấn đề là hiện tại tôi chưa có phương án nào khả dĩ. Tôi đã đi dạo quanh làng và xem xét, nhưng chẳng ai biết gì về anh em nhà Terrace cả. Cứ đà này, ngay cả khi tôi thực thi công lý xong, có khi chính tôi lại là kẻ gặp nguy hiểm.”
Tôi cảm nhận được nhịp tim dồn dập của gã pha chế. Suy nghĩ của gã hiện rõ mồn một trên khuôn mặt. Rằng liệu mình có thể giúp ích được gì không, liệu mình có thể có một câu chuyện anh hùng để kể cho thực khách nghe, hay đơn giản là một niềm an ủi khi được chạm tay vào công lý.
“Thật là nan giải. Việc công lý được thực thi, tội ác bị ngăn chặn và những linh hồn đã khuất được an ủi... Âu đó cũng là mục đích sống và là cách để đóng góp cho sự phát triển của đất nước này, phải không anh?”
Tôi nhìn thẳng vào mắt gã một cách lộ liễu. Gã định né tránh ánh nhìn của tôi bằng cách quay đi vài lần, nhưng cuối cùng cũng lấy hết can đảm để đối diện.
“Tôi cần phải làm gì đây, thưa ngài Phó Cảnh sát trưởng Liên bang.”
“Cũng không có gì to tát đâu. Anh chỉ cần khiến tờ lệnh truy nã này được lan truyền rộng rãi trong dân chúng là được. Nhưng tuyệt đối đừng để anh em nhà Terrace... à không, anh em nhà Sosher phát hiện ra.”
Trái tim gã vốn đã đập thình thịch khi nghe thấy cái tên ‘Terrace’, nay lại càng như muốn nổ tung khi tôi hạ thấp giọng nói ra hai chữ ‘Sosher’.
“Anh có thể chép tay lại, hoặc chỉ cần truyền miệng rằng mình đã nhìn thấy thứ này là được. Chỉ cần khiến dân làng biết về sự tồn tại của nhà Terrace là đủ. Anh làm được chứ?”
Với đôi đồng tử giãn rộng, gã gật đầu lia lịa một cách nhanh chóng.
“Tốt lắm. Nếu mọi chuyện suôn sẻ... 500 Rudd. Tôi sẽ gửi anh chừng đó.”
Gã liếm đôi môi khô khốc vì căng thẳng, cố gắng che giấu niềm vui sướng đang trào dâng.
“Tôi không cần tiền đâu, tôi làm chuyện này là vì công lý, chỉ vì công lý mà thôi, thưa ngài Phó Cảnh sát trưởng.”
Dĩ nhiên, đó là một lời nói dối trắng trợn. Thậm chí gã còn cố tình hạ giọng khi gọi chức danh của tôi để ra vẻ quan trọng.
Ngay từ đầu, một cuộc hội thoại bắt đầu bằng câu ‘đừng nói cho ai biết’ và kết thúc bằng ‘hãy cho mọi người cùng biết’ mà gã cũng chẳng mảy may nghi ngờ sao?
Cảm nhận sâu sắc việc đồng tiền và danh hão có thể làm lu mờ khả năng phán đoán của con người đến nhường nào, tôi khẽ trao cho gã một cái chào kiểu quân đội kín đáo, rồi nhận lấy phần thức ăn—chỗ thì cháy đen, chỗ thì còn tái sống—để mang về bàn nơi Annie đang đợi.
“Vị chắc không ngon lắm đâu. Em thấy trong người thế nào rồi?”
Annie nhìn chằm chằm vào chiếc đĩa, lí nhí đáp:
“...Em, em thấy mệt lắm. Những tiếng gào thét đó, cái roi đó, và cả cái cây đó nữa... tất cả.”
“Tôi hiểu. Đối mặt với nỗi đau chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Có phải em cũng...”
‘Cũng từng bị quất roi sao?’
Tôi định hỏi vậy nhưng rồi lại thôi. Đó là một câu hỏi vô nghĩa, hay nói đúng hơn, nó rõ ràng là một câu hỏi chỉ mang lại thêm những ký ức tồi tệ.
“...Cha em là một người tốt.”
Annie bắt đầu kể.
“Cha là người sinh ra đã có một tài năng nhỏ bé, đó là có thể giao tiếp với các Tinh linh.”
Điều đó thì tôi biết. Dù không biết có bao nhiêu người trong nhân loại thấu hiểu điều này, nhưng việc thú nhân có tai và đuôi vốn dĩ là bằng chứng cho thấy họ có sự tương thích mạnh mẽ với Tinh linh.
“Mỗi khi em, hay Yul, Sally, Nilly bị thương hoặc đau ốm, cha luôn chữa lành cho tụi em. Chỉ cần cha đặt tay lên và lặng lẽ nhắm mắt lại, một vầng sáng màu xanh lá sẽ bao quanh lấy em, và sau đó... mọi vết thương đều biến mất không dấu vết.”
Trong thoáng chốc, một nụ cười lướt qua trên môi Annie rồi biến mất nhanh như gió thoảng.
“Nhưng Alma thì luôn dùng roi. Bất kể là ai, bất kể lý do gì. Chẳng có ngày nào mà gã không vung roi cả. Cả mẹ, cả cha, cả các em của em nữa...”
‘Và cả chính em nữa’. Nếu cô bé nói hết câu, chắc chắn đó sẽ là những gì tiếp theo.
“...Tôi xin lỗi.”
Cô bé lắc đầu.
Bữa tối cứ thế trôi qua trong sự tĩnh lặng, một sự im lặng khác hẳn với cuộc trò chuyện đầy toan tính với gã pha chế lúc nãy.
Sau khi dùng bữa xong, chúng tôi bước lên tầng hai dưới ánh nhìn đầy áp lực của gã pha chế.
Tầng hai, căn phòng thứ tư tính từ hành lang. Vì đây là ngôi làng có nhiều người qua lại liên quan đến trang trại nên phòng ốc khá khang trang, không chỉ có hai chiếc giường mà mỗi phòng còn có phòng tắm riêng.
“Em vào trước đi. Cứ chọn chiếc giường nào em thích.”
Tôi đóng cửa lại và bắt đầu sắp xếp hành lý. Phủi mớ bụi bặm bám trên quần áo qua cửa sổ, treo mũ lên giá, và tháo rời khẩu súng theo thói quen.
Trong lúc đang giết thời gian như thế, tôi chợt nhận ra không có tiếng nước chảy nên ngẩng đầu lên hỏi:
“...Em không tắm sao?”
Chẳng nói chẳng rằng, cô bé chỉ lặng lẽ nhìn tôi.
“Hay là để tôi vào trước nhé?”
Annie lắc đầu, hơi cúi mặt xuống và nói:
“E-em không muốn ở một mình.”
…….
Tôi đã mất vài giây dài đằng đẵng như cả thiên niên kỷ để cân nhắc xem nên trả lời thế nào cho phải.
“...Tại vì, sự run rẩy này cứ mãi không dừng lại, e-em thấy lạ lắm. Liệu hai kẻ đó có nhận ra em không? Có khi nào một lát nữa chúng sẽ xông vào đây không, nếu vậy thì, nếu chuyện đó xảy ra...”
Annie cúi gằm mặt thút thít. Tôi đặt tay lên đôi vai gầy guộc đang run rẩy ấy, khẽ chạm trán mình vào trán cô bé.
“Chúng không nhớ em đâu. Mà dù có nhớ đi chăng nữa, chúng cũng sẽ tìm đến căn phòng bên cạnh trước thôi. Em còn nhớ những gì tôi đã nói chứ?”
“...Vâng.”
“Em sợ à?”
Annie ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt màu lục bảo ấy dao động dữ dội đến mức tôi có cảm giác như chỉ cần chạm nhẹ là nó sẽ vỡ tan, khiến người ta cứ thế bị hút vào trong.
Trực giác mách bảo rằng dẫu khoảng cách giữa hai gương mặt có gần đến đâu tôi cũng không được phép lùi lại, tôi khẽ bóp nhẹ đôi vai cô bé.
“Sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Luôn có thứ gọi là vận may của kẻ khởi đầu mà.”
Mới đồng hành cùng nhau có hai ngày mà đã gặp đại họa sao, chuyện đó hiếm khi xảy ra lắm.
“Khi em tắm, tôi không thể vào trong đó cùng em được. Chúng ta vẫn là hai cá nhân riêng biệt mà.”
“...Vâng.”
“Nhưng tôi có thể đứng trước cửa và hát cho em nghe. Như vậy có được không?”
Annie gật đầu. Một cách chậm chạp và đầy vẻ bất an.
“...Hà.”
Tôi mở cửa phòng tắm và cùng bước vào với Annie.
“Tôi chỉ rửa chân cho em thôi nhé. Được chứ?”
“Vâng.”
Annie đáp lại bằng một tông giọng nằm đâu đó giữa sự mãn nguyện và chút nuối tiếc.
Tôi để Annie ngồi trên một chiếc ghế nhỏ, hứng nước ấm vào chậu rồi thả vòi nước vào trong bồn tắm bên cạnh.
Tôi nâng bàn chân phải của Annie lên để đưa vào chậu, cảm nhận rõ hình dáng của bàn chân nhỏ nhắn ấy.
Tôi xoa nhẹ mu bàn chân mịn màng, chà xát những chiếc móng chân đã mọc dài, và gột rửa những vết bẩn bám giữa kẽ móng và ngón chân.
“Hì... nhột quá ạ.”
“Móng chân phải cắt bớt đi thôi. Để nó gãy thì sẽ đau lắm đấy.”
“...Anh cắt cho em nhé.”
“Được thôi, chuyện đó thì không vấn đề gì.”
Tôi làm sạch bụi bẩn giữa các kẽ ngón chân, vuốt dọc theo những đường cong mềm mại của lòng bàn chân từ gót đến ngón, và lau sạch vùng quanh mắt cá chân đang nhô ra.
“E-em đã bảo là nhột mà...”
Nhìn những ngón chân nhỏ xíu cứ ngọ nguậy, tôi không kìm được sự tinh quái mà dùng ngón tay gãi nhẹ vào lòng bàn chân cô bé.
“Hú... a ha ha, đừng mà, dừng lại đi anh!”
Dẫu quần áo có bị ướt sũng vì đôi bàn chân cứ liên tục co rụt rồi lại đạp loạn xạ kia, tôi vẫn cảm thấy ấm lòng khi thấy gương mặt cười rạng rỡ của Annie.
Cuối cùng, tôi cẩn thận chạm vào phần cạnh bàn chân bị trầy xước do phải đi chân đất suốt thời gian dài. Nghĩ đến cảnh cô bé đã chạy trốn khỏi Kipchik với đôi bàn chân như thế này, tôi lại thấy xót xa vô cùng.
“Có đau lắm không?”
“Không sao đâu ạ, thế này có thấm tháp gì. Chỉ cần tìm lại được gia đình thì...”
Lời nói đó chẳng mấy thuyết phục vì cô bé cứ mỗi lần tôi chạm vào vết thương là lại khẽ giật mình.
Tôi tiếp tục rửa chân trái cho Annie một cách tương tự, rồi dùng chính chiếc áo đã ướt của mình để lau khô cho cô bé. Bỗng nhiên, một thắc mắc hiện lên trong đầu tôi.
Dù biết có thể đây là sự tò mò thừa thãi, và cũng có thể là nhờ ơn của cha cô bé, nhưng thắc mắc vẫn cứ là thắc mắc.
“Chân em mềm thật đấy.”
“Tại vì trước đây em chỉ làm việc ở trong nhà thôi. Nấu ăn, rửa bát, rồi dọn dẹp nữa.”
“Đưa tay tôi xem nào?”
Tôi nắm lấy bàn tay Annie. Dù hôm nay đã nắm tay cô bé vài lần nhưng tôi vẫn nhận ra, trên đó hoàn toàn không có vết chai sần nào cả.
Quả nhiên là nhờ khả năng trị thương của cha cô bé sao? Hay là sự bảo hộ của Tinh linh? Dù là lý do gì thì cũng tốt cả.
“Vậy giờ tôi ra ngoài đây. Bồn tắm cũng đầy nước rồi, em cứ thong thả mà tắm nhé.”
Tôi đóng cửa lại và ngồi xuống, bắt đầu ngâm nga một bài hát nào đó đã từng nghe ở đâu đó như đã hứa, rồi tiếp tục công việc lau chùi những khẩu súng của mình.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
