Sau khi ký kết thành công hợp đồng mới với tộc quỷ, Karen trông nhẹ cả người. Baledos thì suýt nhảy cẫng lên vì sung sướng khi nghe tin, và lúc chúng tôi báo rằng mai sẽ đi thăm mỏ pha lê ma thuật đỏ, ông ta đã gầm lên một tiếng đầy hả hê, nước mắt lưng tròng. Đến tôi cũng phải ngạc nhiên khi thấy ông anh Eldos của ông ấy cũng rưng rưng nước mắt theo.
Về phần ngài Galbady, ông ấy có vẻ rất tâm đắc với món than củi. Sau này tôi mới biết ông ấy định dùng nó để sưởi ấm cho người bà đã già yếu của mình. Tôi từng nghe nói tộc quỷ chỉ tôn sùng sức mạnh, kẻ yếu trong nhà chỉ có nước phục tùng hoặc chết. Nhưng xem ra, Celes không phải người duy nhất biết quý trọng gia đình.
Khi tôi kể chuyện này cho Kilpha, cô ấy nói: “Họ muốn trở nên mạnh mẽ vì có người cần bảo vệ, meow.” Có lẽ cô ấy nói đúng. Có lẽ ngài Galbady phấn đấu để trở thành chiến binh mạnh thứ hai của tộc cũng là để bảo vệ gia đình. Và tôi cũng tin chắc rằng, chính vì Mifa mà Celes đã làm tất cả những chuyện đó.
◇◆◇◆◇
Ngày hôm sau, sau khi Karen và ngài Galbady ký hợp đồng mới, tộc quỷ đã tổ chức một bữa tiệc chào mừng chúng tôi.
“Xin giới thiệu với mọi người,” ngài Galbady dõng dạc tuyên bố trước toàn thể tộc quỷ đang tập trung tại quảng trường làng. “Đây là cô Karen, thị trưởng của Ninoritch.”
“Xin chào, tôi là Karen Sankareka. Thật vinh dự khi được mời đến bữa tiệc này.”
Bữa tiệc chiêu đãi chúng tôi có rau củ từ Ninoritch và thịt của con wyvern băng mà tộc quỷ săn được hôm trước. Dĩ nhiên, tất cả đều được phục vụ sống. Thế là tôi liền dựng lên mấy cái vỉ nướng BBQ di động, rồi Aina và Kilpha đi từng nhóm một để chỉ cho tộc quỷ cách sử dụng. Chẳng mấy chốc, bữa tiệc chào mừng đã biến thành một buổi tiệc nướng BBQ đúng nghĩa.
“N-ngon quá!”
“Không ngờ thịt nướng lên lại ngon đến thế!”
“Phết cái thứ sốt màu nâu trông như bùn này lên còn ngon hơn nữa!”
“Hah. Ta thì cho rằng chỉ cần rắc chút muối lên là tuyệt vời nhất.”
“Mấy lão già các người chỉ biết có muối...”
“Thằng nhóc đó gọi cái này là gì nhỉ? ‘Gia vị’? Ta nghĩ ta sắp nghiện món này rồi đấy.”
“Còn phải nói. Cái thứ gọi là ‘tiêu’ này—hay gì đó—đúng là làm dậy vị thịt thật!”
“Này! Miếng đó của tao!”
“Không, của tao!”
“Chẳng của đứa nào hết, là của tao.”
“Của tao!”
Tất cả tộc quỷ đang ngồi quây quần bên các vỉ nướng, bỗng một cuộc cãi vã nổ ra. Celes để ý thấy và lẳng lặng tiến lại gần. Đến nơi, cô khó chịu tặc lưỡi một tiếng, rồi tung ra một tràng đấm vào mấy kẻ gây rối.
“Á!” là âm thanh duy nhất vang lên từ nhóm đó.
Và phải công nhận với Celes, cách này hiệu quả ra phết, vì họ ngay lập tức im thin thít. Điều đó một lần nữa nhắc tôi rằng tộc quỷ thực sự chỉ tôn sùng sức mạnh.
Tôi nghe tiếng Baledos cười hô hố ở một góc nướng khác. “Mấy gã quỷ này cũng biết thưởng thức rượu ngon đấy chứ, Eldos!”
“Phải, biết quá đi chứ, phải không? Mà thôi, rượu của Shiro cũng ngon bá cháy rồi.”
“Cho ta thêm vại nữa được không, chú em người lùn?”
“Ta nữa.”
“Một vại thôi à? Thôi đừng có ngớ ngẩn! Cứ uống tẹt ga đi, nghe chưa?”
“Ồ! Cảm ơn nhé, người lùn!” một gã quỷ bên cạnh ông ta nói.
“Không thể tin nổi chúng ta lại được uống thứ rượu trứ danh này,” một gã khác nhận xét. “Lâu lắm rồi ta mới vui như vậy đấy, người lùn ạ!”
Có vẻ như hai anh em người lùn đã khởi xướng một chầu nhậu ngay tại chỗ. Mà thôi, rượu với tiệc nướng BBQ vốn là một cặp trời sinh, nên cũng chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, tôi đã phạm một sai lầm là dạy họ cách làm atsukan—rượu sake hâm nóng—và một khi đã vào guồng thì không gì cản nổi họ nữa. Họ treo một cái nồi lên vỉ nướng, đổ đầy nước và một đống bình hâm rượu sake vào. Thêm nữa, vì cả hai đều là người lùn, khả năng điều khiển lửa của họ thật hoàn hảo, nghĩa là rượu sake lúc nào cũng được hâm nóng đến nhiệt độ lý tưởng. Vì thế, ngày càng có nhiều quỷ tộc mặt mày đỏ bừng.
“Zô vì rượu sake nóng!” Baledos hô to, cười sảng khoái.
“Zô!”
Tôi tự nhủ phải thêm rượu vào danh sách hàng hóa trao đổi.
Nhìn chung, ý tưởng mang than củi và vỉ nướng đến hòn đảo này của tôi đã thành công vang dội, vì tộc quỷ có vẻ rất thích thú với việc dùng chúng để sưởi ấm và nấu ăn. Chỉ trong một giờ, họ đã được mục sở thị công dụng của chúng.
Chứng kiến cảnh đó, cả Karen và tôi đều thở phào nhẹ nhõm.
◇◆◇◆◇
Màn đêm buông xuống mà bữa tiệc nướng vẫn diễn ra sôi nổi. Ban ngày trên hòn đảo phương bắc chẳng kéo dài được bao lâu, nên dù trời vẫn còn khá sớm, mặt trời đã lặn mất rồi. Tuy nhiên, không vì thế mà trời tối hẳn, vì cực quang đã vẽ nên những sắc màu huyền ảo trên bầu trời, trong khi những ngọn lửa than tí tách tỏa ra ánh sáng ấm áp khắp quảng trường làng.
“Một bữa tiệc nướng BBQ dưới ánh cực quang...” tôi lẩm bẩm một mình, đứng trong góc, mắt ngước nhìn trời, tay cầm một lon bia. “Thế này thì còn gì bằng. Nói không ngoa chứ, đây là tuyệt nhất.”
Tôi cứ ngỡ mình đang ở một mình, nhưng đột nhiên một giọng nói vang lên từ phía sau. “Anh bạn thương nhân từ Ninoritch, ra là cậu ở đây.”
Quay lại, tôi thấy thủ lĩnh làng. “Woa! Ngài Galbady?”
“Ta làm cậu giật mình à?” ông hỏi.
“Vâng,” tôi thừa nhận. “Tôi không nghĩ ngài lại đứng đó.”
“Xin lỗi về điều đó,” ông nói với một tiếng cười khẽ. Ông đến đứng cạnh tôi, rồi đảo mắt qua khung cảnh náo nhiệt trong quảng trường với một tia thích thú. “Ta chưa bao giờ thấy ngôi làng này tràn đầy sức sống như vậy,” ông nhận xét.
“Thật sao?”
“Chúng ta không có cái thú ‘quây quần bên mâm cơm nóng’, như cách người hume các anh vẫn nói,” ông giải thích.
“Tôi hiểu rồi. Vậy đó là lý do mọi người trông vui vẻ đến thế,” tôi nói, cũng đưa mắt nhìn quanh quảng trường.
“Đúng vậy. Cậu đã giới thiệu cho chúng tôi một thứ khá phiền phức đấy. E rằng giờ đây khi đã nếm thử cái gọi là nấu nướng này, hầu hết bọn họ sẽ không thể quay lại ăn đồ sống được nữa.”
Tôi không khỏi bật cười trước nhận xét của ông. “Có lẽ tôi đã hơi quá trớn một chút.”
Ngài Galbady lắc đầu. “Không, thực ra ta rất biết ơn cậu. Làng của chúng ta nằm ở một vùng đặc biệt lạnh lẽo trên đảo, và từ trước đến nay, chúng ta chưa từng có thứ gì để đốt lên sưởi ấm.” Ông dừng lại, một nụ cười nhếch lên trên môi. “Dù ta cho rằng chính môi trường khắc nghiệt này đã tôi luyện cho chúng ta mạnh mẽ như hiện tại.”
“Chà, nó hơi quá khắc nghiệt đối với chúng tôi, những người hume,” tôi thừa nhận.
“Vậy sao? Có vẻ những truyền thuyết về việc người hume yếu ớt hơn cả những kẻ yếu nhất trong tộc của chúng ta là sự thật,” ông nói, liếc nhìn chiếc áo phao của tôi. Đêm đó trời âm mười lăm độ C, một buổi tối tương đối ấm áp theo tiêu chuẩn của tộc quỷ, ít nhất là tôi nghe nói vậy. “Dù ta cho rằng chính sự yếu đuối của các người đã dẫn lối cho việc phát minh ra thứ ‘than củi’ này,” ông trầm ngâm.
“Ai biết được?” tôi nói. “Than củi đã tồn tại quá lâu rồi, không ai thực sự biết nó được phát hiện lần đầu khi nào.”
“Ồ, thật sao?”
“Vâng. Ở quê tôi, người ta nói nó đã được sử dụng ít nhất ba trăm nghìn năm rồi.”
“Ba trăm nghìn năm?!” ông kinh ngạc lặp lại.
Tôi bật cười. “Thì, người ta nói vậy thôi. Chẳng ai biết chính xác nó có từ bao giờ. Suy cho cùng, người hume có tuổi thọ khá ngắn,” tôi nói một cách tinh nghịch.
Ngài Galbady nở một nụ cười gượng gạo. “Cậu tự xưng là thương nhân, nhưng lại chẳng giống bất kỳ thương nhân nào ta từng gặp,” ông nói.
“Vậy ư— Hả? Khoan đã.” Tôi chớp mắt, cố gắng tiêu hóa những gì ông vừa nói. “Các người cũng có thương nhân ở đây à?”
Tộc quỷ hiểu khái niệm “kinh doanh” ư? Celes chưa bao giờ nói với tôi điều này!
“Không, chúng ta không có. Không có thương nhân nào trong tộc quỷ cả. Toàn bộ quỷ tộc cũng vậy.”
“Vậy thì, ai—” tôi bắt đầu, nhưng đã bị ngắt lời.
“Thương nhân duy nhất ta biết là một người hume, giống như cậu.”
Tim tôi hẫng một nhịp. Một thương nhân hume khác đã đến hòn đảo này? Lẽ nào đó là “thương nhân nguy hiểm” mà Zidan đã kể?
“Điều gì đã đưa gã thương nhân đó đến đây? Ý tôi là, đến hòn đảo của quỷ tộc,” tôi hỏi, giọng tôi run lên, đến chính tôi còn nghe rõ sự bồn chồn của mình. Tôi không ngờ mình lại nhanh chóng tìm thấy manh mối về gã thương nhân mờ ám mà mình đang truy lùng.
May mắn thay, có vẻ như ngài Galbady không nhận ra sự xáo động trong lòng tôi. “Hắn ta tuyên bố rằng hắn đến để gặp cô Celesdia,” ông nói.
“Để gặp Celes?” tôi kinh ngạc lặp lại.
“Đúng vậy. Nếu ta nhớ không lầm...”
Ngài Galbady bắt đầu kể cho tôi nghe mọi chuyện về chuyến thăm của gã thương nhân.
