Bán Hàng Rong ở Dị Giới: Tôi Có Thể Về Nhà Bất Cứ Khi Nào Mình Muốn!

Chương kế tiếp:

Truyện tương tự

I Was Mistaken as a Great War Commander

(Đang ra)

I Was Mistaken as a Great War Commander

애완작가

Đây hẳn là cơ hội thích hợp để mình đầu hàng quân Đồng Minh. Daniel thầm nghĩ.

53 1345

Con điên ở cái Võ Lâm này là tao đấy

(Đang ra)

Con điên ở cái Võ Lâm này là tao đấy

정통무협조와요

Trong khi tôi chẳng biết tí gì về võ hiệp cả."

832 2066

Những Mạo Hiểm Giả Vỡ Mộng Hình Như Sẽ Cứu Lấy Thế Giới

(Đang ra)

Những Mạo Hiểm Giả Vỡ Mộng Hình Như Sẽ Cứu Lấy Thế Giới

Shinta Fuji

Một tổ đội tưởng chừng chắp vá… nhưng lại mạnh đến mức không gì cản nổi.

8 27

Nữ nhân xấu, đêm nay gia nhập vào săn giết

(Đang ra)

Nữ nhân xấu, đêm nay gia nhập vào săn giết

SADUCK

Khoan đã, sao trong bộ manga này ngay cả nhân vật của mình cũng có vậy?!

222 2291

Trở Thành Tên Phản Diện Ntr Nữ Chính

(Đang ra)

Trở Thành Tên Phản Diện Ntr Nữ Chính

Sau khi viết một bài sớ dài ngoằng để tế cuốn tiểu thuyết mạng mình ngày đêm theo dõi, Lee Seo-jin bất ngờ trở thành phản diện trong cuốn tiểu thuyết đó.Bạn nghĩ đây sẽ là một câu chuyện về phản diện

180 130

Volume 10 - Chương Chín: Buổi Yết Kiến Thủ Lĩnh

Hai ngày sau khi chúng tôi đến làng, một nữ quỷ tộc đến báo tin thủ lĩnh đã đi săn về.

“Ta hiểu rồi. Bảo ông ta tới đây,” Celes ra lệnh.

“Vâng, thưa tiểu thư Celes.”

Tôi không khỏi sững sờ. Tôi cứ ngỡ chúng tôi mới là người phải đến chỗ ông ta, chứ đâu phải ngược lại. Xã hội quỷ tộc hoàn toàn trọng sức mạnh, và là một trong Tứ Đại Thiên Vương của Ma vương, địa vị của Celes xem ra còn cao hơn cả thủ lĩnh làng. Chuyện này lại hóa hay cho chúng tôi, nên tôi chẳng phàn nàn gì. Lý do là vì trong hai ngày qua, tôi đã bàn bạc kỹ lưỡng với mọi người—nhất là Karen—về những thứ mà tộc quỷ có thể cần. Và may mắn thay, cuối cùng chúng tôi đã tìm ra câu trả lời.

◇◆◇◆◇

“Ông đến rồi à, Galbady.”

“Xem ra tôi đã để cô phải chờ rồi, thưa tiểu thư Celesdia,” vị thủ lĩnh đáp lời khi bước vào phòng khách nhà Celes. Trông ông ta trạc bốn mươi, với đôi mắt sắc lẹm như dao. Dáng người dong dỏng nhưng rắn chắc, cơ bắp cuồn cuộn hằn rõ, và những vết sẹo chi chít trên người là minh chứng cho một đời chinh chiến. Rõ ràng ông ta là một trong những chiến binh quỷ tộc mạnh nhất—thực tế chỉ xếp sau Celes—đồng thời cũng là một cố vấn xuất sắc. Ông ta cũng là người đã ký thỏa thuận thương mại với Ninoritch, và Karen bảo tôi rằng họ đã trao đổi thư từ nhiều lần.

“Nghe nói ông đi săn quái vật,” Celes nói.

“Phải. Chúng tôi đã giao chiến với con wyvern băng ở vùng núi phía tây. Giờ thì chúng ta đã có đủ thịt dùng trong một thời gian.” Thủ lĩnh dừng lời, rồi quay sang Karen. “Vậy cô là thị trưởng của Ninoritch?” ông hỏi, ánh mắt sắc bén đến nỗi cô nhất thời sững người.

Cô nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. “Vâng,” cô đáp với một cái gật đầu dứt khoát. “Tôi là Karen Sankareka, thị trưởng của Ninoritch. Chúng ta đã trao đổi thư từ khá nhiều, nhưng thật mừng khi cuối cùng cũng được diện kiến ngài, thưa thủ lĩnh.”

“Ta là Galbady, thủ lĩnh của làng này. Thuộc hạ của ta nói cô muốn nói chuyện với ta. Có đúng không?”

“Ngài thật thẳng thắn. Như vậy lại hay. Mời ngài Galbady an tọa,” Karen nói. Vị thủ lĩnh ngồi xuống tấm đệm đối diện cô, khoanh chân lại.

Chỉ có bốn người chúng tôi trong phòng—Celes, ngài Galbady, Karen, và tôi—tất cả đều ngồi quây quần quanh một chiếc bàn sưởi kiểu lạ. Những người còn lại đang đợi ở phòng khác.

“Vậy? Điều gì đã mang những con người như các vị đến tận hòn đảo của chúng tôi— Hửm?” Đang nói, ánh mắt của ngài Galbady dừng lại trên chiếc bàn giữa chúng tôi. Hay nói đúng hơn là vào chính giữa nó. “Lửa? Sao các vị lại đốt lửa trong đó? Đang đốt gỗ à?” Ông lại dừng lại khi nhìn kỹ hơn. “Không, khoan đã. Đó không phải là gỗ. Thị trưởng của Ninoritch, chuyện này là sao?”

Karen và tôi liếc nhau rồi cùng gật đầu. Phản ứng của thủ lĩnh đúng hệt như chúng tôi dự đoán. Ông ta rõ ràng đã bị thứ chúng tôi mang đến thu hút.

“Thứ này được gọi là ‘than củi’, thưa ngài Galbady,” Karen giải thích.

“‘Than củi’? Đó là gì?”

“Nó được làm từ gỗ, nhưng cháy lâu hơn củi rất nhiều, và cũng dễ nhóm lửa hơn.”

Mắt ngài Galbady dán chặt vào ngọn lửa đang tí tách cháy bên trong chiếc bàn irori. “Đây là lửa thật sao? Đã bao lâu rồi ta chưa thấy thứ gì khác ngoài lửa phép thuật?” ông lẩm bẩm một mình.

“Xin lỗi, nhưng ngài có phiền không nếu chúng tôi cứ để than cháy trong lúc nói chuyện? Ngài thấy đấy, loài người chúng tôi không chịu lạnh giỏi như tộc quỷ các ngài,” Karen nói, cố tình nhấn mạnh từ “than củi”.

“Ta không phiền,” ngài Galbady đáp. Hơi ấm của lửa than xem ra đã hoàn toàn chiếm được cảm tình của ông.

Than củi vốn không có trong kế hoạch của tôi khi lên đường đến đây, nhưng sau một hồi thảo luận với mọi người về những thứ có thể cải thiện cuộc sống của tộc quỷ, chúng tôi đã nghĩ đến nó, một nguồn tài nguyên đơn giản nhưng hiệu quả để sưởi ấm. Ngay khi quyết định xong, tôi đã lén dịch chuyển về nhà bà, phóng vèo đến cửa hàng đồ kim khí gần nhất và mua một ít trong khu đồ cắm trại.

Ban đầu, tôi chỉ định mua một cái lò than, nhưng mắt tôi lại va phải một thứ khiến tôi nảy ra ý tưởng mới. Như đã nói, nhà Celes chẳng có mấy đồ đạc, nên tôi quyết định rằng nếu đã mua thứ gì đó đặt vào đây, sao không biến nó thành một món đồ truyền thống của Nhật Bản luôn cho rồi? Đồ nội thất Nhật Bản đã phát triển qua nhiều thế kỷ, tạo ra vô số thiết kế tài tình, trong đó có thứ được coi là đỉnh cao của đồ nội thất lai: bàn irori, một chiếc bàn với phần giữa được khoét rỗng để đặt bếp lửa.

Tất nhiên, tôi đã giả vờ rằng mình đã chuẩn bị sẵn mọi thứ khi lấy nó ra khỏi Kho đồ và lắp đặt trong phòng khách của Celes. Ngay khi tôi nhóm than, tôi biết mình đã đi đúng hướng. Mặc dù tường và trần nhà làm bằng băng, chiếc bàn irori đã nhanh chóng sưởi ấm căn phòng, và chẳng bao lâu sau, mọi người và Mifa (đặc biệt là Mifa) đã dán chặt vào nó không chịu nhúc nhích. Ngay cả Celes, người chịu lạnh tốt hơn hẳn, cũng khó lòng rời khỏi hơi ấm của nó, đó là bằng chứng không thể chối cãi về hiệu quả của chiếc bàn. Và xem ra, ngài Galbady là người mới nhất rơi vào bùa mê của nó.

“Thị trưởng của Ninoritch, thứ ‘than củi’ mà cô nói có giá trị với loài người không?” ông hỏi.

“Tôi tin rằng tốt hơn hết nên để Shiro trả lời câu hỏi của ngài,” Karen đáp, và ánh mắt của ngài Galbady ngoan ngoãn chuyển sang tôi.

Tôi ngay lập tức bật chế độ thương nhân. “Rất vui được gặp ngài, ngài Galbady. Tôi là Amata Shiro, trợ lý của cô Karen và là một thương nhân đến từ Ninoritch. Rất hân hạnh được làm quen.”

Người đàn ông gật đầu, tôi coi đó là tín hiệu để bắt đầu giải thích.

“Than củi được tạo ra bằng cách đốt gỗ trong lò. Ở quê tôi có hai loại: binchou-zumi, hay còn gọi là than trắng, và kuro-zumi, tức than đen. Tôi sẽ không làm ngài đau đầu với những chi tiết kỹ thuật, nhưng nói ngắn gọn thì than trắng thường đắt hơn than đen.”

“Loại các vị đang dùng là loại nào?” thủ lĩnh hỏi.

“Loại trắng ạ.”

“Ồ? Vậy là loại đắt tiền hơn.”

“Than trắng cháy lâu hơn than đen, nên nó phù hợp hơn cho việc sưởi ấm,” tôi giải thích.

“Ta hiểu rồi. Và nó đắt hơn vì cháy lâu hơn, phải không?”

“Chính xác.”

Việc ông ta liên tục đặt câu hỏi cho thấy ông ta rất quan tâm đến than củi của tôi. Nếu thế vẫn chưa đủ rõ, thì tôi để ý thấy ông ta không hề rời mắt khỏi ngọn lửa một giây nào kể từ khi cuộc trò chuyện bắt đầu.

8c0739e7-f733-4e4a-9442-22278bc7bef8.jpg

“Loài người có dùng than củi để sưởi ấm không?” ông hỏi.

“Không ạ. À, ít nhất là không phải ở thị trấn của chúng tôi,” tôi tự sửa. “Chúng tôi có cả một khu rừng khổng lồ ngay trước cửa, nên chủ yếu vẫn đốt củi để giữ ấm.”

Ông ngâm nga suy tư. “Vùng đất của các vị xem ra khác xa chúng tôi.”

“Vậy sao ạ? Ồ, vì các ngài không có rừng? Đó có phải ý của ngài không?”

Lần này, Celes là người trả lời. “Chúng tôi có rừng. Và nhiều loại cây khác nữa. Nhưng cây cối ở đây tỏa ra khói độc khi bị đốt.”

“Gì cơ?” tôi chớp mắt ngạc nhiên.

“Chúng còn la hét khi bị chặt,” cô nói thêm.

Tôi phải mất một lúc mới tiêu hóa nổi thông tin vừa rồi. “Khoan đã. Celes, cô dùng gỗ từ mấy cái cây đó để xây nhà này à?”

“Phải,” cô thản nhiên đáp. “Đó là gỗ treant độc. Nhưng đừng lo, nó hoàn toàn vô hại trừ khi bị đốt.”

Cả tôi và Karen đều chết lặng. Hòn đảo này đúng là khắc nghiệt đến từng chân tơ kẽ tóc! Nhưng mà, đây là lãnh địa của Ma vương. Nếu là game RPG, đây hẳn là màn cuối sau khi đã cày cuốc chán chê. Việc ngay cả quái vật ở đây cũng mạnh đến vô lý là điều hoàn toàn dễ hiểu.

“Ta đoán là cây cối ở xứ sở của các vị không tỏa ra khói độc?” ngài Galbady nói.

“Không ạ. Ít nhất là theo những gì tôi biết.”

Một tia khao khát thoáng qua trong mắt ông, pha lẫn một chút buồn bã. Tộc quỷ sống trong một thế giới băng tuyết vĩnh cửu, nhưng có lẽ họ vẫn mơ về một vùng đất được tắm trong ánh nắng vàng.

“Ồ, phải rồi! Tôi suýt quên mất một điều nữa về than củi. Nó thực ra còn có một công dụng khác ngoài việc sưởi ấm. Và đó là một công dụng khá hay ho đấy!” tôi nói, giọng cao hơn một chút để khuấy động lại không khí. Tôi quay về phía phòng bên cạnh và gọi, “Aina! Em mang cái-em-biết-là-gì-đấy vào được không?”

“Vâng ạ!” cô bé hăng hái đáp. “Đi thôi, Mifa!”

“V-Vâng.”

Hai cô bé bước vào phòng khách, tay bưng những chiếc khay. Aina tự tin bước về phía chúng tôi, còn Mifa thì rụt rè theo sau.

“Em gái của tiểu thư Celesdia?” ngài Galbady nói, có chút ngạc nhiên, trước khi quay lại nhìn tôi. “Cậu định làm gì vậy?”

Tôi cười một cách bí hiểm. “Chà, tôi chỉ nghĩ sẽ thật tuyệt nếu chúng ta tận dụng than củi này để nấu một món gì đó.”

“‘Nấu ăn’?” ông lặp lại với một cái cau mày, từ ngữ nghe thật xa lạ. “Đó là gì?”

Trên những chiếc khay mà Aina và Mifa đang bưng là những xiên rau và thịt. Tôi đặt một cái kiềng lên bếp irori, rồi đặt một cái vỉ nướng lên trên, trước khi dùng cọ phết một lớp dầu ô liu.

“Mister Shiro, bây giờ nướng xiên que ạ?” Aina hỏi.

“Đúng vậy. Trông cậy vào các em cả đấy.”

Aina lấy những xiên thịt rau từ khay của mình và đặt chúng lên vỉ nướng. Mifa cũng làm theo một lúc sau.

Ngài Galbady quan sát họ, mặt lộ rõ vẻ bối rối. “Chuyện gì đang xảy ra vậy?”

“Đây là một phương pháp nấu ăn mà ở quê tôi gọi là ‘tiệc nướng BBQ’. Về cơ bản là nướng thịt và rau trên lửa,” tôi giải thích.

Ông chớp mắt. “Và tại sao các vị lại làm vậy?”

“Tôi tin ngài sẽ hiểu sau khi nếm thử,” tôi tự tin nói.

Những xiên thịt rau được tẩm ướp bắt đầu xèo xèo trên than hồng, tỏa ra một mùi thơm nức mũi. Mùi thơm quyến rũ đến độ Celes—người nãy giờ vẫn im lặng—cũng bắt đầu nuốt nước bọt ừng ực.

“Được rồi. Mấy cái này chắc chín rồi.” Tôi lấy những xiên que đã chín, xếp chúng lên đĩa, rồi đặt xuống trước mặt ngài Galbady. “Mời ngài.”

Ngài Galbady nhặt một xiên que và đưa lên miệng không chút do dự. Giống như Celes, nước miếng đã ứa ra từ khóe miệng ông vài phút nay nên chắc hẳn ông đã rất nóng lòng muốn thử. Ông cắn một miếng và gần như ngay lập tức quai hàm ông trễ xuống. Vẻ mặt ông hoàn toàn sững sờ. Ông ngấu nghiến xiên thịt, và ngay khi vừa xong, ông liền chộp lấy xiên thứ hai không nói một lời.

“Nó cũng rất hợp với sốt BBQ đấy ạ,” tôi nói, xịt một ít sốt lên đĩa.

“V-Vậy sao? Ta đoán ta có thể thử.”

Chọp, chọp, ực.

“Tôi cũng có mayonnaise, hay còn gọi là ‘nước sốt bị cấm’.” Lần này, tôi rưới một ít mayo lên đĩa của ông.

“Ựm?!” là phản ứng gần như không thành tiếng của ông khi nếm thử.

Chọp, chọp, ực.

Các cô bé đã nướng đủ xiên que cho vài người ăn, nhưng vị thủ lĩnh đang một mình chén sạch tất cả trong thời gian kỷ lục. Tôi thoáng tự hỏi liệu ông có cảm nhận được ánh mắt Celes đang lườm cháy cả một bên đầu mình không.

“Đây là lần đầu tiên ta được ăn thứ gì ngon đến vậy. Không thể tin trên đời này lại có thứ còn ngon hơn cả thịt thằn lằn băng,” ông lẩm bẩm, hoàn toàn bị mê hoặc, bụng ông đã phình to thấy rõ.

Tôi không lãng phí một giây nào, lập tức vào bài chào hàng. “Tôi có thể thấy ngài đã có một trải nghiệm thú vị. Lửa than cung cấp nhiệt độ ổn định hơn các loại lửa khác, khiến chúng trở nên lý tưởng để nấu ăn. Thêm vào đó, bất cứ thứ gì nướng trên than củi đều có xu hướng ngon hơn nhiều so với thức ăn nấu trên lửa thông thường.”

“Ta chưa bao giờ ăn thịt nấu chín nên không có gì để so sánh, nhưng món này quả thật rất ngon. Nó có dùng được với thịt ma thú không?”

“Tôi cho là có,” tôi trả lời. Người dân ở Ninoritch vẫn ăn thịt quái vật, và tôi cho rằng thịt ma thú cũng không khác là bao.

“Thứ than củi này quả thực ấn tượng,” ngài Galbady nói, vẻ mặt nghiêm túc của ông quay trở lại (dù hiệu quả có phần giảm đi do sốt vẫn còn dính quanh môi).

“Giờ, quay lại câu hỏi ban đầu về giá trị của than củi,” tôi bắt đầu. “Như tôi đã nói, than củi được làm bằng cách đốt gỗ trong lò, việc này tốn cả thời gian và công sức, khiến nó đắt hơn củi.”

“Điều đó có đúng với cả than đen—hay tên gọi gì đó của nó—không?”

“Vâng.”

Một bóng mây bao trùm khuôn mặt thủ lĩnh. “Nó so với nông sản mà các vị đã gửi cho chúng tôi thì thế nào?” ông hỏi, người rướn về phía trước.

Dính câu rồi! Tôi thầm reo lên, nắm chặt tay. Màn trình diễn nhỏ về than củi đã thành công mỹ mãn, giờ chỉ cần kéo lưới lên thôi.

“Hừm...” tôi trầm ngâm nói to. “Điều đó khó nói lắm.”

“Tại sao?”

“Chà, giá trị của nông sản thay đổi tùy thuộc vào sản lượng thu hoạch của năm hay mùa đó,” tôi giải thích. “Ví dụ, nếu có một vụ mùa thất bát, nông sản sẽ trở nên có giá trị hơn so với khi được mùa.”

Ông gật đầu. “Giống như số lượng ma thú mỗi năm khác nhau, phải không?”

“Vâng, đó là một sự so sánh hay,” tôi nói. “Vụ thu hoạch năm nay ở Ninoritch rất tốt, nên giá trị của nông sản thấp hơn năm ngoái.”

“Ta hiểu rồi. Vậy là chúng tôi không thể yêu cầu các vị thay thế nông sản bằng than củi được.”

Vàààà… dính câu! Cả chì lẫn chài! Tôi nháy mắt với Karen để ra hiệu cho cô ấy.

“Ngài Galbady, chúng tôi thực ra có một yêu cầu với ngài về việc đó,” cô xen vào.

“Ồ? Là gì vậy, Thị trưởng của Ninoritch?”

“Chúng tôi có thể yêu cầu ngài tăng số lượng pha lê ma thuật đỏ mà ngài cung cấp cho chúng tôi được không?” cô đáp. “Đổi lại, chúng tôi có thể thêm than củi vào danh sách các mặt hàng sẽ giao dịch với các ngài.”

Ngài Galbady rõ ràng bị sốc trước đề nghị của cô. “Cô có chắc không? Các vị có thể dễ dàng đi lấy bao nhiêu pha lê ma thuật tùy thích chỉ bằng cách đến một hang động gần đây.” Baledos hẳn sẽ nhảy cẫng lên vì vui sướng nếu ông ấy nghe được điều này, may mà ông ấy không có mặt trong phòng.

“Chúng tôi muốn ngài cung cấp chúng trực tiếp hơn,” Karen nói. “Đó thực ra là mục đích chuyến thăm của chúng tôi.”

“Pha lê ma thuật đỏ rất có giá trị đối với loài người chúng tôi,” tôi nói thêm.

“Được rồi. Ta sẽ yêu cầu thuộc hạ của mình đi thu thập một ít ngay lập tức,” ngài Galbady nói, định đứng dậy.

“À, xin hãy chờ một lát,” Karen nói, ngăn ông lại. “Tôi nghĩ tốt nhất chúng ta nên hoàn tất các chi tiết trước khi ngài đi.”

Hai chúng tôi đã đàm phán thỏa thuận với ngài Galbady, và phải nói là không hề dễ dàng. Tộc quỷ chỉ coi trọng sức mạnh, nghĩa là họ không thực sự có khái niệm về giá trị của hàng hóa và tài nguyên theo cách chúng tôi hiểu.

“Ngài nghĩ sao về một viên đá ma thuật đỏ cho mỗi miếng than củi?” ông đề nghị một cách thản nhiên, như thể điều đó không hề có lợi một cách lố bịch cho chúng tôi.

Chính lúc đó, tôi nhận ra Celes không hề phóng đại khi nói rằng pha lê ma thuật đỏ phổ biến như sỏi trên hòn đảo này. Cô thậm chí còn nói với Karen rằng sẽ cho cô ấy “bao nhiêu pha lê ma thuật đỏ tùy thích” khi nghe cô muốn có một ít vài tháng trước. Celes ở trên đỉnh của hệ thống phân cấp quỷ tộc, cao hơn cả thủ lĩnh, nên nếu cô ra lệnh, những người khác sẽ tranh nhau lấy cho cô bao nhiêu pha lê tùy thích.

Nhưng lúc đó, Karen đã từ chối. “Đó là một lời đề nghị hào phóng, nhưng tôi xin từ chối. Với tư cách là thị trưởng của Ninoritch, tôi muốn một thỏa thuận công bằng nhất có thể cho người dân của ngài.”

Karen không muốn thị trấn của mình là bên duy nhất được hưởng lợi. Họ đã đồng ý trao đổi những viên pha lê ma thuật đỏ vô cùng quý giá để lấy nông sản của chúng tôi, vì vậy cô muốn đảm bảo rằng họ thực sự nhận được thứ họ muốn. Cô giải thích rằng mình đã chọn than củi làm mặt hàng thương mại mới sau khi nhận thấy Mifa bé nhỏ đang run rẩy vì lạnh. Ninoritch không gặp khó khăn gì trong việc sản xuất than củi, đến mức việc giao dịch này thực sự có thể là cơ hội hoàn hảo để phát triển một ngành công nghiệp mới cho thị trấn. Biểu cảm trên khuôn mặt Celes khi cô lắng nghe lời giải thích của Karen là một sự ngưỡng mộ. Rõ ràng là cô rất tôn trọng cô ấy. Theo cách riêng của mình.

“Vậy là năm viên pha lê ma thuật đỏ cho một thùng than củi. Tất cả chúng ta đều đồng ý chứ?” tôi hỏi.

“Ta không có ý kiến phản đối,” ngài Galbady nói.

“Tôi cũng vậy,” Karen nói thêm.

“Trong trường hợp đó, tôi đã soạn sẵn một hợp đồng dựa trên các điều khoản đó. Karen, nếu cô có thể ký ở đây...” Tôi dừng lại khi cô làm vậy. “Và ngài Galbady, nếu ngài có thể ký ở đó...”

“Ký?” thủ lĩnh quỷ tộc hỏi, cau mày.

“Ồ, nó chỉ có nghĩa là viết tên của ngài,” tôi giải thích. “Hoặc không nhất thiết phải là tên ngài. Bất cứ thứ gì có thể dùng để nhận dạng ngài đều được.”

“Vậy thì ta sẽ dùng máu của mình.” Nói rồi, ngài Galbady cắn ngón tay, bôi vệt máu vừa túa ra lên giấy. “Thế này được chưa?”

“Ồ, à, vâng,” tôi đáp sau một thoáng ngập ngừng. “Hoàn hảo.”

Và cứ thế, thỏa thuận thương mại mới giữa Ninoritch và làng quỷ đã được ký kết, trên một tờ hợp đồng mà tám mươi phần trăm diện tích đã thấm đẫm máu của ngài Galbady.