Chúng tôi đặt chân đến hòn đảo của quỷ tộc vì ba mục tiêu chính.
Thứ nhất, Celes cần báo cáo với Ma vương về những chiếc Vòng cổ Thống trị mà gã cựu thủ tướng của Orvil đã sử dụng. Chỉ có quỷ tộc mới đủ sức chế tạo những công cụ ma thuật có thể khống chế cả một con rồng đen nên khả năng cao chúng được rèn bởi đồng bào của cô.
Thứ hai, tôi phải đào sâu hơn về nguồn gốc của những chiếc vòng cổ này, để xem liệu kẻ đã bán chúng cho Magath có phải là gã thương nhân mờ ám mà Zidan từng đề cập hay không. Dĩ nhiên, tất cả mới chỉ là suy đoán nên tôi sẽ cần Celes hỗ trợ điều tra và thu thập thêm thông tin.
Và cuối cùng, Karen muốn đàm phán với thủ lĩnh tộc quỷ để có thêm nguồn cung pha lê ma thuật đỏ, dù chúng tôi vẫn đang trong quá trình chuẩn bị các điều khoản. Theo quyết định của Celes, chúng tôi sẽ ưu tiên nhiệm vụ này trước khi bắt tay vào điều tra Vòng cổ Thống trị. Vì vậy, cả nhóm sẽ tá túc tại nhà cô cho đến khi thủ lĩnh của họ trở về.
◇◆◇◆◇
Theo lời Celes, hầu hết nhà cửa trong làng quỷ đều được xây bằng băng. Một số bộ phận như cột chống, ván sàn và cửa thì cần đến gỗ, nhưng phần còn lại của các công trình về cơ bản đều được tạo tác từ băng tuyết gia cố bằng ma thuật. Đây là một giải pháp kiến trúc tài tình, bởi cây cối và thực vật trên hòn đảo này cực kỳ khan hiếm. Đúng là một thế giới đậm chất kỳ ảo.
“Karen, sao cô không thêm gỗ vào danh sách những thứ có thể đề nghị với tộc quỷ nhỉ?” tôi gợi ý trên đường đến nhà Celes.
“Anh nói nghe nhẹ tênh, nhưng ai sẽ vận chuyển cả đống gỗ đó? Đâu phải ai cũng có kỹ năng Kho đồ như anh và Patty,” cô chỉ ra.
“À, phải rồi.”
Tuy cả tôi và Patty đều có kỹ năng Kho đồ, và Ney—bang chủ hội Ân Phước Tiên Tộc—cũng sở hữu một vật phẩm có tính năng tương tự, nhưng đây vẫn là một phương thức vận chuyển cực hiếm. Tôi đã quá quen với việc những người xung quanh mình sử dụng nớn
E1 đến nỗi quên bẵng mất nó hiếm có đến mức nào.
“Hơn nữa, tộc quỷ hẳn đã quen với việc xây dựng bằng băng hơn là gỗ, nếu không thì sao họ có thể tạo ra những công trình ấn tượng thế này,” cô nói thêm.
“Đúng thật. Theo một cách nào đó, chúng trông như những tuyệt tác nghệ thuật,” tôi công nhận.
“Phải không? Vì vậy, chừng nào họ còn thấy ổn với kiến trúc hiện tại, thì việc đề nghị cung cấp gỗ cũng chẳng ích gì.”
Tôi nga. “Cô nghĩ vậy sao?”
“Tôi nghĩ vậy.”
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Chẳng có quỷ tộc nào mặc đồ mùa đông cả, và với những ngôi nhà làm bằng băng theo đúng nghĩa đen, tôi không khỏi thắc mắc liệu khả năng chịu lạnh của họ có cao hơn người thường không. Trong khi đó, tôi đã phải dán chi chít các miếng dán giữ nhiệt lên người chỉ để khỏi chết cóng. Dù sao thì, tôi khá ấn tượng với sự nhạy bén của Karen. Đây là lần đầu cô đến làng quỷ, vậy mà chỉ cần quan sát một chút đã nhận ra họ không cần gỗ. Rõ ràng cô không phải là thị trưởng của Ninoritch chỉ để làm cảnh.
“Với khí hậu thế này, tôi có thể hiểu tại sao thực phẩm lại quý giá với họ đến vậy,” cô nói, nhìn quanh khu làng.
Tôi gật đầu đồng tình. “Chúng ta chẳng thấy một ngọn cỏ hay sinh vật nào trên đường đến đây, nói gì đến quái vật.”
“Tôi cũng nhận ra điều đó. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao Celes lại yêu cầu tôi cung cấp thực phẩm khi chúng tôi soạn thảo thỏa thuận thương mại ban đầu.”
Karen và tôi tiếp tục trò chuyện trong lúc bám theo Celes—người đang khoác tay Mifa—về nhà cô. Sau khoảng mười phút đi bộ, cô nàng quỷ tộc cuối cùng cũng dừng lại trước một công trình nổi bật.
“Nhà tôi đây,” cô nói đơn giản.
“Woa... Cô sống ở đây á? To khủng khiếp,” tôi buột miệng, không giấu nổi vẻ kinh ngạc. Nhà của Celes lớn hơn hẳn bất kỳ ngôi nhà nào chúng tôi đã thấy. Về cơ bản, nó là một cung điện băng.
Cô đẩy cánh cửa gỗ và mời chúng tôi vào. “Vào đi.”
“Xin phép nhé,” tôi nói, bước vào nhà trước, theo sau là Kilpha, Aina và Patty.
“Meow! Tường và trần nhà cũng làm bằng băng luôn, meow!” Kilpha kêu lên, mắt tròn xoe ngắm nghía nội thất.
“Trong này hình như còn lạnh hơn cả mấy cái lều tuyết mình đã ở,” Aina nhận xét.
“Hình như á?” Patty nhắc lại. “Trong này lạnh cóng luôn!”
Hai anh em người lùn là những người tiếp theo bước vào.
“Cảm giác như bước vào phòng đông lạnh ấy nhỉ, Eldos?” Baledos nói.
“Chắc chắn rồi,” anh trai ông ta đáp. “Nhiệt độ này khá là khắc nghiệt với người lùn đấy.”
“Hm. Ít nhất cũng che được gió, nên vẫn tốt hơn đứng ngoài trời,” Karen nhận xét khi cô bước vào.
“Tôi e là chủ nhân sẽ bị cảm lạnh ở một nơi thế này mất,” Dramom nói, giọng thoáng chút lo lắng.
“Nếu pa-pa lạnh, Suama sẽ làm cho pa-pa khỏe lại!” Suama bi bô, lững thững đi vào sau mẹ.
Khi mọi người đã vào hết, Mifa đóng cửa lại, và Celes dẫn chúng tôi vào một căn phòng cực lớn. Nghiêm túc đấy, nó phải rộng ít nhất tám mươi mét vuông! Trần nhà hình vòm càng khiến không gian có cảm giác rộng hơn. Tôi đoán đây là phòng khách của Celes, nhưng ngạc nhiên là trong phòng có rất ít đồ đạc, thậm chí không có bàn ghế. Thực tế, thứ duy nhất trong phòng là một tấm da thú khổng lồ trải trên sàn. Nhìn chung, căn phòng khá trống trải. Ai mà ngờ Celes lại là một người theo chủ nghĩa tối giản khi sở hữu một ngôi nhà to như thế này chứ?
Tôi ngờ rằng sự trống trải này phản ánh sở thích cá nhân của Celes hơn là phong tục của quỷ tộc. Cứ nhìn cô ấy mà xem: sở thích duy nhất trong đời của cô dường như là chiến đấu và ăn uống.
“Cứ tự nhiên nhé,” cô nói.
Tôi cảm ơn cô và tất cả chúng tôi ngồi phịch xuống tấm da. Nó thoải mái một cách đáng ngạc nhiên, nhưng với tường và trần nhà làm bằng băng, chẳng mấy chốc tôi bắt đầu thấy lạnh. Liếc sang bên, tôi thấy Aina đã tháo găng tay và đang hà hơi vào tay để sưởi ấm. Mấy cái lều tuyết chúng tôi ngủ vài đêm trước đủ nhỏ để cả đám có thể túm tụm lại giữ ấm, nhưng nơi này quá rộng lớn, dù tất cả có chen chúc vào nhau cũng không thể xua đi cái lạnh. Là một người quen sống trong những ngôi nhà có máy sưởi, tôi bắt đầu thấy hơi khó chịu.
“Ừm, Celes, tôi hỏi một câu được không?” tôi nói.
“Chuyện gì?”
“Nghe có vẻ hơi bất lịch sự, và tôi xin lỗi trước, nhưng cô và những quỷ tộc khác có bao giờ thấy lạnh khi sống trong những ngôi nhà băng này không?” tôi hỏi, nói ra thắc mắc của mọi người.
Tuy nhiên, câu trả lời của Celes khiến tôi hoàn toàn bất ngờ. “Có chứ,” cô đáp thẳng thừng.
“Phải, đó là điều tôi—khoan, cái gì? Cô có cảm thấy lạnh á? Ngay cả cô ư?”
Celes gật đầu, vẻ mặt không đổi. “Tất nhiên. Anh nghĩ chúng tôi làm bằng gì? Đây là băng đấy.”
“Nhưng trông cô có vẻ chẳng lạnh chút nào,” tôi chỉ ra.
“Tộc quỷ chúng tôi có kháng lạnh.”
“Meow? Cô có kháng lạnh, nhưng vẫn cảm nhận được nó à?” Kilpha tò mò xen vào.
“Phải.”
Theo Celes, tộc quỷ có khả năng kháng tự nhiên không chỉ với nóng và lạnh, mà còn với ma thuật của bốn nguyên tố cổ điển—lửa, nước, không khí và đất—cộng thêm ma thuật sấm sét và hắc ám. Tuy nhiên, họ vẫn có thể cảm nhận được cảm giác lạnh, nóng và đau đớn khi tiếp xúc với những nguyên tố này.
“Nghe thấy không, Eldos? Giống như khả năng kháng lửa của chúng ta vậy,” Baledos nhận xét với anh trai.
“Nghe giống thật,” người lùn lớn tuổi đồng ý. “Người lùn chúng ta có thể cầm thanh sắt nung đỏ bằng tay không mà chẳng hề hấn gì.”
“Thôi nào, Eldos. Ông lại phóng đại rồi đấy!” người lùn trẻ hơn đáp. “Ngay cả tôi cũng sẽ bị bỏng nặng nếu chạm vào sắt nóng.”
“Đó là vì cậu thiếu rèn luyện,” Eldos cộc lốc nói.
“Bah! Ông lúc nào cũng nói thế!”
Thế giới này là nơi sinh sống của nhiều chủng tộc, và tôi đã biết mỗi tộc đều có khả năng kháng nguyên tố nhất định, dù tôi không ngờ họ vẫn cảm nhận được tác động khi tiếp xúc với nguyên tố bị kháng. Lại học thêm được một điều mới.
“Thú vị thật. Vậy là Celes cũng cảm thấy lạnh, nhỉ?” tôi lẩm bẩm. Những bánh răng trong đầu tôi bắt đầu quay. Khoan đã... Đây chẳng phải là cơ hội kinh doanh sao?
Tôi liếc về phía Celes, một tiếng ngâm nga thắc mắc thoát ra khỏi môi. Ngồi bên cạnh cô, Mifa đang quấn mình trong một tấm da quái vật. Không giống Celes, người có vẻ hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cái lạnh, cô bé quỷ đang run rẩy ngay cả khi đã có tấm da che chắn.
Celes hẳn đã nhận ra ánh mắt của tôi nên cô kéo em gái lại gần hơn và giải thích. “Như tôi đã nói, Mifa có thể chất yếu. Không giống những người khác, khả năng kháng nguyên tố của con bé không hơn gì một người thường.”
“Tôi hiểu rồi...” tôi nói, rồi mỉm cười với cô bé. “Mifa, em có muốn mượn áo khoác của anh không?” tôi đề nghị.
“Đừng có tỏ ra thân thiết với tôi,” cô bé cộc lốc đáp trả, ném cho tôi một cái lườm sắc lẻm.
“Ồ, ừm...” tôi lắp bắp, sững người trước phản ứng của cô bé. “Xin lỗi.”
Vì lý do nào đó, cô bé đã coi tôi là “kẻ thù” và dường như không muốn dây dưa gì đến tôi. Tôi hơi buồn, nhưng Kilpha—người ngồi cạnh tôi—vỗ nhẹ vào lưng tôi an ủi, như thể muốn nói, “Không sao đâu.”
“Tôi đã có tấm da quái vật mà chị yêu săn cho để giữ ấm. Tôi không cần bất cứ thứ gì khác,” Mifa nói đầy thách thức, quấn chặt tấm da quanh mình hơn.
Vậy là Celes đã đi săn quái vật chỉ để lấy da cho em gái? Tôi đang nhìn thấy một khía cạnh hoàn toàn mới của cô ấy—một khía cạnh mà tôi chưa bao giờ ngờ tới. Đúng là một bà chị tốt, nhỉ?
Đột nhiên, tôi bị kéo ra khỏi dòng suy nghĩ bởi Aina đang đưa tay về phía Mifa. “Cầm lấy này, Mifa!” cô bé nói khi đưa cho cô bé quỷ một túi sưởi. Mifa ném cho Aina một cái nhìn khó hiểu.
“Ấm lắm đó,” Aina giải thích, rồi cười rạng rỡ với cô bé quỷ. Điều này dường như đã thuyết phục được Mifa, cô bé nhận lấy túi sưởi.
“Ấm quá,” cô bé thì thầm, một nụ cười nhỏ nở trên môi khi áp túi sưởi vào má.
Aina đứng dậy ngồi xuống cạnh Mifa, nép sát vào người cô bé. “Tớ là Aina!” cô bé vui vẻ nói, nhìn thẳng vào mắt cô bé kia.
Cô bé quỷ có vẻ ngạc nhiên, nhưng cuối cùng cũng thì thầm, “Mifa.”
“Mifa, cậu có muốn làm bạn với tớ không?” Aina đề nghị.
Nhưng Mifa lắc đầu. “Tôi không cần bạn bè.”
“Cái gì?” Patty lên tiếng, xen vào cuộc trò chuyện. “Cô không có bạn nào à?”
“Cô nói không khéo léo lắm đâu, boss,” tôi khiển trách cô.
“Tôi có chị gái. Tôi không cần bạn bè,” Mifa nói. A, nhìn xem cô đã làm gì kìa, Patty. Con bé ủ rũ rồi.
Nhưng Aina đang làm tan chảy thái độ băng giá của Mifa một cách dễ dàng. “Vậy thì điều đó có nghĩa là tớ là người bạn đầu tiên của cậu!” cô bé nói.
Mifa chớp mắt nhìn Aina một cách bối rối. “Hả?”
“Tớ chắc chắn chúng ta sẽ rất hợp nhau!” cô bé vui vẻ nói thêm, nở một nụ cười ấm áp khác.
“Ừm, được thôi,” Mifa thì thầm, khẽ gật đầu.
Aw, bé Mifa vừa có người bạn đầu tiên rồi, tôi nghĩ, cảm thấy hơi—không, thực ra là rất cảm động. Và xét theo cách Celes đang cố nén cười, rõ ràng cô ấy cũng cảm thấy như vậy. Khi Aina đã phá vỡ tảng băng, những người khác lần lượt tự giới thiệu với Mifa.
“T-tôi là Patty! Tôi cũng không phiền làm bạn của cô đâu, nếu cô nài nỉ.”
“Tôi là Kilpha, meow!”
“Còn tôi là Karen, thị trưởng của Ninoritch.”
Thật không may, có vẻ như Mifa không quan tâm đến ai khác ngoài Aina, có lẽ vì họ trạc tuổi nhau. Chà, ít nhất tôi cho là vậy, vì tôi vẫn chưa biết quá trình lão hóa của tộc quỷ hoạt động ra sao.
Vì tất cả chúng tôi đều kiệt sức sau chuyến đi, cả nhóm quyết định ăn tối sớm. Tuy nhiên, có một vấn đề nho nhỏ: Tủ thức ăn của Celes chỉ có rau sống. Nghĩ lại thì, tôi nhớ cô ấy từng nói tộc quỷ luôn ăn mọi thứ sống, kể cả thịt. Lần đầu nghe thấy, tôi đã kinh hãi, nhưng giờ đến đây rồi thì tôi đã hiểu. Gỗ ở vùng đất này đơn giản là quá khan hiếm, có lẽ đó là lý do họ chưa bao giờ phát triển thói quen nấu nướng. May mắn thay, tôi luôn giữ một chiếc bếp di động trong kho đồ của mình, và tôi vội vàng lấy nó ra cùng với một cái nồi để đun nước. Tôi cũng lấy ra một ít mì ly, đồ ăn liền sấy khô và các loại thực phẩm làm sẵn khác.
“Mọi người cứ chọn món mình thích nhé,” tôi thông báo, và các bạn đồng hành nhanh chóng gọi món.
“Tôi muốn mì ly, meow! Loại có tempura giòn ở trên ấy, meow!”
“Hiểu rồi. Soba tempura cho em, Kilpha.”
“Ta sẽ ăn món takikomi gohan giống tối qua,” Eldos nói, dù cách phát âm nghe trọ trẹ.
“Cho ta giống hệt anh trai ta, nhóc. Và rượu! Với cả khoai tây chiên để ăn vặt nữa!” Baledos nói thêm.
“Lại là rượu à?” tôi rên rỉ. “Tôi còn không chắc mình còn chút nào không nữa.”
“Shiro!” Patty lên tiếng. “Tôi muốn ramen! Ramen! Phải là ramen! Đó là lệnh của sếp!”
“Shoyu, miso, hay shio?” tôi hỏi, liệt kê các loại tôi có.
“Miso!”
Aina và Suama lên tiếng sau cô. “Em nghĩ em muốn một ít súp rau củ,” Aina nói nhẹ nhàng.
“Suama cũng thế!” cô bé rồng bi bô.
Tiếp theo là Karen và Dramom. “Shiro, anh có bánh ngọt nào không? Tôi rất muốn một chiếc bánh mì kem, nếu anh có,” thị trưởng nói.
“Thưa chủ nhân, tôi muốn một phần cơm rang tôm,” Dramom yêu cầu.
“Hiểu rồi. Tôi sẽ chuẩn bị mọi thứ ngay đây, mọi người cứ ngồi yên nhé,” tôi nói, đổ nước nóng vào các hộp đồ ăn liền, và bày đồ ăn đóng hộp cùng bánh ngọt lên vài chiếc đĩa giấy.
Sau vài phút, bữa ăn đã sẵn sàng và các bạn đồng hành của tôi vui vẻ bắt đầu ăn. Tôi rất vui vì họ vẫn chưa chán đồ ăn tôi mang theo, dù chúng tôi đã ăn đi ăn lại suốt ba ngày qua. Nhưng nghĩ lại thì, thực phẩm bảo quản của Nhật Bản có chất lượng rất tốt, có lẽ là do văn hóa của chúng tôi rất coi trọng hương vị.
Tuy nhiên, Mifa, người chưa bao giờ ăn đồ nấu chín, nhìn chằm chằm vào ly mì ăn liền một cách bối rối. “Chị yêu, thứ ấm áp này thực sự là đồ ăn sao?” cô bé hỏi một cách khó hiểu.
“Đúng vậy,” Celes trả lời. “Người thường có một truyền thống gọi là ‘nấu ăn’. Họ chủ yếu ăn đồ ăn nóng.”
“Nấu… ăn…” cô bé lặp lại, thử nói từ đó.
“Phải, nấu ăn. Em thử đi, Mifa,” Celes khuyến khích em gái.
“Vâng, chị yêu.”
Mifa đưa mặt lại gần ly giấy và thận trọng ngửi bên trong, trước khi cắm chiếc nĩa vào mì và—sau một hồi vật lộn—lấy ra một miếng, rồi đưa nó về phía môi mình. Vẻ mặt cô bé cứng lại đầy quyết tâm, và cô bé nhanh chóng nhét chiếc nĩa vào miệng như thể đang cố cho xong chuyện. Nhưng gần như ngay khi cô bé cắn vào sợi mì, mắt cô bé mở to kinh ngạc. Cô bé nuốt miếng đầu tiên, rồi lại lao vào ăn mì, xì xụp hết miếng này đến miếng khác.
“Ngon quá! Chị yêu, cái này ngon lắm!” cô bé kêu lên, khiến chị gái mình bật cười thích thú.
“Vậy sao?” Celes hỏi nhẹ nhàng.
“Vâng! Em chưa bao giờ nếm thứ gì tinh tế như thế này!” cô bé quỷ nói, đôi mắt lấp lánh.
Hãy tưởng tượng bạn sống cả đời và bữa ăn ngon nhất bạn từng ăn là mì ly. Mà thôi, tôi cũng không nên quá ngạc nhiên, vì ở vùng đất tuyết và băng này, chỉ cần tìm được thứ gì đó để ăn hẳn đã là một thử thách.
“Em không ngờ những thứ giống con giun này lại ngon đến vậy!” Mifa nói thêm.
“Chị cũng vậy,” Celes đồng ý. “Lần đầu nhìn thấy chúng, chị đã nghĩ chúng là lũ ký sinh trùng trong ruột quái vật.”
Nghe thấy vậy, Kilpha đang ăn soba tempura liền cứng đờ. “Celes ngốc! Ai lại nói chuyện ghê tởm như thế trong lúc ăn chứ, meow!” cô càu nhàu.
“Kilpha nói đúng đấy,” tôi xen vào. “Thế là mất lịch sự lắm. Lỡ cô làm chúng tôi mất ngon thì sao?”
Cô nàng quỷ tộc lúng túng vặn vẹo. “...Xin lỗi.”
“Mmmeow, tôi không chắc có thể tha thứ cho cô đâu, meow. Tôi sẽ phải lấy một trong những chiếc bánh ngọt của cô để bồi thường, meow!” Kilpha tuyên bố, đưa tay về phía đĩa của Celes, nhưng cô nàng quỷ tộc ngay lập tức vòng tay quanh đồ ăn của mình để bảo vệ.
“Không! Cô không được chạm vào bánh mì dưa lưới của tôi!”
“Thôi nào, đưa nó đây! Không ai thích kẻ keo kiệt đâu, meow!” Kilpha nói, không bỏ cuộc.
“Shiro không phải cũng đã cho cô một cái sao?” Celes hỏi.
“Tôi ăn rồi, meow.”
“Vậy thì cô sẽ phải đợi đến bữa sau.”
“Không muốn, meow!” Kilpha rên rỉ.
“Dừng lại ngay!”
Nắm chặt chiếc bánh mì dưa lưới như thể mạng sống của mình phụ thuộc vào nó, Celes cố gắng lùi ra xa Kilpha, nhưng cô nàng cat-sìth vẫn đuổi theo, đạp lên tường, cột và thậm chí cả trần nhà để lao về phía cô nàng quỷ tộc, người đã kịp thời né tránh mọi cú vồ. Nói thẳng ra, đó là một màn trình diễn khá ngoạn mục, và các bạn đồng hành của tôi dường như cũng đồng ý.
“Bắt lấy nó, Kilpha! Nó đang đi đường kia kìa!” Eldos hét lên, cổ vũ cho cô cat-sìth trong khi đang nốc từng ngụm lớn đồ uống của mình.
Bên cạnh ông, Baledos cười phá lên. “Mấy cô gái này có vài chiêu khá hay đấy, nhỉ?”
“Chị Kilpha, chị Celes, cố lên!” Aina hét lên, cổ vũ cả hai, trong khi bên cạnh cô bé, Suama chỉ khúc khích trước cảnh tượng, hoàn toàn thích thú với những trò hề.
“Đi đi, Kilpha, đi đi! Lấy một ít bánh mì dưa lưới đó cho tôi nữa!” Patty hét lên một cách phấn khích.
Tất cả chúng tôi đều cười vui vẻ trước những trò hề của hai người. Chà, tất cả trừ một người.
“Chị?” Mifa thì thầm, bối rối trước cảnh tượng đang diễn ra trước mắt.
