Ông Tom
Annie không hề nặng. Ngay từ đầu, chiều cao của em vốn đã không quá lớn, mà dù có tính đến chuyện đó thì em vẫn thuộc diện người mảnh khảnh.
Thế nên, nếu có yếu tố nào khiến bước chân tôi trở nên nặng nề, thì đó tuyệt đối không phải là vì cân nặng của em.
Điều đầu tiên phải kể đến chính là nhiệt độ.
Bắt đầu từ đôi vai, rồi đến cánh tay đang quàng qua cổ tôi, cặp đùi mà tôi đang đặt tay lên, hay đôi chân đang quấn quanh hông tôi... tất cả đều nóng hổi như lửa đốt, gây cản trở không nhỏ cho việc di chuyển.
Một yếu tố khác chính là tầm nhìn. Trong tình cảnh chiếc mũ thợ mỏ vốn đã che khuất một phần tầm nhìn phía trên, việc cõng thêm Annie trên lưng lại càng khiến đầu tôi phải cúi thấp hơn.
Việc chỉ có thể dán mắt vào gót chân đang bước đi phía trước của ông Vulture và chú ý để không bị vấp ngã như Annie tuy không quá khó, nhưng lại là một việc bào mòn tâm trí liên tục.
“... Anh có mệt không?”
Annie cất tiếng hỏi đầy dè dặt với chất giọng khàn đục như tiếng kim loại rỉ sét.
“Anh có thể cõng em cả ngày cũng được.”
Tôi trả lời như thế, rồi lại tiếp tục bước từng bước, từng bước một.
Vì đó chỉ là sự lặp lại của một động tác duy nhất, nên tôi chẳng buồn đếm mình đã đi được bao nhiêu bước, cũng chẳng màng cảm nhận thời gian đã trôi qua bao lâu. Tôi không cần thiết phải làm thế, mà cũng chẳng còn hơi sức đâu để tâm đến những việc như vậy.
Chính vì thế, khi một tia sáng rực rỡ lọt vào tầm mắt – báo hiệu sự kết thúc của chuỗi lặp lại ngỡ như bất tận – tôi chẳng kịp quan sát quảng trường mà chỉ biết đặt Annie xuống đất rồi lăn ra đó mà thở dốc.
Cơ thể tôi nóng bừng. Đó không phải là thứ nhiệt huyết trào dâng từ trái tim, mà là một cái nóng rát như ký sinh trùng đang xâm nhập vào từng thớ thịt từ làn da đang bỏng cháy.
Dù không đến mức hụt hơi, nhưng tim tôi đập như muốn nổ tung lồng ngực. Chẳng cần soi gương tôi cũng cảm nhận được vành tai mình đang đỏ rực lên.
“Cảm ơn anh. Chỉ tại em... Giá mà em...”
“Đừng có nói cái câu thà rằng đừng đến đây nữa.”
Vì nếu nghe thấy những lời đó, tôi cảm thấy ý nghĩa trong hành động của mình sẽ hoàn toàn tan biến mất.
“... Lẽ ra em nên nhìn kỹ dưới chân mình hơn.”
Annie tựa lưng vào vách hang, ngượng nghịu quay mặt đi chỗ khác.
“Này Jack, đến nơi rồi đấy. Sao cậu không thử nhìn vào bên trong xem?”
Sau khi đã lấy lại được nhịp thở, tôi làm theo lời ông Vulture. Nơi nằm ở cuối đường hầm này, địa danh mà tôi đã được nghe nhắc tới vài lần – ‘Quảng trường’. Nơi đó...
Đã bị phá hủy hoàn toàn.
Có lẽ ban đầu đây là một không gian hình tròn. Theo ước tính về diện tích, nơi này đủ rộng để khoảng bốn mươi người có thể nằm ngủ thoải mái. Những mảng tường vẫn còn giữ được độ cong vốn có cho phép ta hình dung ra hình dáng ban đầu của nó, với vài lối rẽ dẫn sang các đường hầm khác.
Nhưng đó là chuyện của trước kia, còn bây giờ thì không. Dù lúc này vẫn có vài người đang đi lại, nhưng với tình trạng này, đừng nói là bốn mươi, ngay cả năm người cũng chẳng có chỗ mà nằm.
Tất cả là vì đống đổ nát chất cao như núi, lan ra từ chính giữa ‘Quảng trường’.
Gọi là một đống thì hơi nhẹ nhàng, thực chất nó giống như một ngọn núi thì đúng hơn. Một ngọn núi khổng lồ và nặng nề được tạo nên từ vô số bụi đá và đất cát. Nó chễm chệ ngay trung tâm quảng trường, nuốt chửng mọi thứ.
“Tại sao lại thành ra thế này?”
“Địa tầng bị sập chứ sao, còn lý do nào khác nữa đâu. Mấy gã thợ mỏ phía trên cứ thế mà nổ mìn chẳng thèm suy nghĩ, thế là trần hang sập xuống. Chỉ có vậy thôi.”
Ông Vulture thở dài đầy tiếc nuối.
“Dẫu có hơi thô sơ nhưng đây từng là một không gian được tạo nên bởi rất nhiều tâm huyết. Họ đã mài nhẵn các vách tường, tự tay khắc lên đó những dòng chữ, rồi cùng nhau chia chỗ ngủ... Đã từng là như thế.”
Nhưng giờ thì không còn nữa.
Một nơi trú ẩn riêng tư mà có lẽ ngay cả đám giám thị – những kẻ chưa bao giờ đặt chân sâu đến nhường này – cũng không hề hay biết về sự tồn tại của nó. Giờ đây, vì một phút bất cẩn nhỏ nhoi, nó đã bị phá hủy đến mức chẳng còn nhận ra hình thù cũ.
Sau khi đã bình tâm lại đôi chút, tôi đứng dậy và đi vòng quanh đống đổ nát.
“Ơ, đằng kia là...”
Phía đối diện với lối chúng tôi đi vào có chút khác biệt.
Độ dốc thoai thoải của đống đổ nát bỗng biến mất khi gần đến đoạn đó. Cứ như thể... có ai đó đã đào một cái hố ở đây vậy.
Thay vì là một sườn dốc, nền đất ở đó bị khoét sâu xuống, những mảnh đá vỡ văng tung tóe khắp xung quanh, và rồi.
Bên trong cái hố bị khoét sâu ấy, tôi thấy những vết máu loang lổ như vừa bị nổ tung và vài mảnh vải cháy dở.
“Chỗ này là...”
Tôi không đặt câu hỏi.
“…….”
Và ông ấy cũng không trả lời.
Chỉ có Annie, người đang tựa vào vách đá và lết một bên chân đau đớn để tiến về phía chúng tôi, là cất tiếng yêu cầu một sự xác nhận.
“... Là ở đây sao?”
“Phải, đây là nơi Tom đã ngã xuống.”
“Còn thi thể...”
“Bị nổ tung rồi. Chẳng còn gì sót lại cả. Nhưng dù sao thì cháu vẫn muốn đến đây mà, phải không?”
Ông ấy quay mặt đi, nhìn về phía một lối hầm khác. Ông vô thức gõ cuốc chim xuống đất đầy ngượng nghịu, rồi khẽ hắng giọng.
Bây giờ tôi đã hiểu tại sao lần đầu tiên khi nói về thi thể, ông ấy lại ngập ngừng và tỏ ra lúng túng như vậy. Việc phải nói ra sự thật đó trực tiếp với người thân của người quá cố quả thực là một điều rất khó khăn khi đối diện trực tiếp.
“... Ra là vậy.”
Annie không khóc nữa. Em chỉ lẳng lặng ngồi bệt xuống đất, quỳ xuống bằng bên chân lành lặn, chắp tay lại và nhắm nghiền mắt.
Vì tầm nhìn bị che khuất, cơ thể em run rẩy như sắp đổ sụp xuống, nhưng em vẫn kiên quyết không mở đôi mắt đang nhắm chặt.
Đúng lúc đó, một thứ ánh sáng xanh lục bắt đầu bao quanh Annie. Ánh sáng bắt nguồn từ những đầu ngón tay đang chắp lại, rồi như một bông hoa đang kỳ nở rộ, nó lan dần lên cổ tay và bao phủ khắp cơ thể em.
“Ông Vulture, cái đó là...”
“Chắc là di truyền rồi. Tom cũng từng tỏa ra ánh sáng như thế mà. Đó là loại Tinh linh gì vậy?”
“Tôi cũng không biết. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó.”
“Vậy thì có lẽ con bé cũng không biết đâu. Nó đang nhắm mắt mà, chắc giờ vẫn chưa hay biết gì.”
Nên gọi đây là điều thần kỳ, hay là một điều kỳ quái đây? Một chuyện mà tùy theo góc nhìn có thể khiến người ta cảm thấy rợn người đã xảy ra ngay sau đó.
Như để đáp lại ánh sáng của Annie, đáp lại cái mà ông Vulture gọi là ‘Tinh linh’ ấy, từ đâu đó, một luồng sáng khác bay tới.
Màu sắc của nó tương đồng với ánh sáng của Annie, nhưng nếu so sánh thì nó đậm đặc hơn nhiều.
Nếu ánh sáng của Annie tựa như mầm non mới nhú, thì luồng sáng này lại mang sắc xanh thẫm của loài cây lá kim đại thụ. Dù mới nhìn thấy lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như nó sẽ không bao giờ tắt lịm mà cứ mãi tỏa sáng rực rỡ tại nơi đó.
Vì là ánh sáng nên dĩ nhiên nó không có hình thù cố định. Có thể mô tả nó là một khối cầu, nhưng điều đó cũng không hoàn toàn chính xác. Bởi vì nó, đơn giản chỉ là ánh sáng.
Bất chợt, Annie mở bừng mắt, vẻ mặt lộ rõ sự kinh ngạc.
“... Cha. Cha đang ở đây.”
Vừa nói, Annie vừa nhìn quanh quất, và luồng sáng đậm đặc kia tự nhiên cũng lọt vào tầm mắt em.
“A, cha...?”
Em thốt lên bằng một giọng nói trong trẻo mà tôi ngỡ như đã rất lâu rồi mới được nghe lại.
Annie khập khiễng bước đi, em như bị mê hoặc bởi luồng sáng ấy và dõi theo quỹ đạo của nó, tôi và ông Vulture cũng bước theo sau.
Và rồi, vài người thợ mỏ đang đi ngang qua quảng trường đổ nát này – những người biết về ông Tom, biết về thứ ánh sáng ấy – dường như cũng linh cảm thấy điều gì đó, họ dừng công việc lại và lặng lẽ bước theo sau chúng tôi.
Một vòng, hai vòng, rồi ba vòng. Luồng sáng bay chậm rãi được bảy vòng rồi dừng lại tại một vị trí trong đống đổ nát và lặn mất vào bên trong.
Việc cần làm tiếp theo đã quá rõ ràng. Tôi, ông Vulture, những người thợ mỏ và cả Annie, tất cả những ai đã chứng kiến luồng sáng ấy, đều không ai bảo ai, bắt đầu dọn dẹp từng tảng đá một.
Dần dần, từ kẽ hở giữa đá và bụi bẩn, những tia sáng bắt đầu rò rỉ ra ngoài, và cuối cùng, nơi phát ra ánh sáng ấy đã được tìm thấy.
Đó là bàn tay của một ai đó đã bị xé toạc một cách tàn nhẫn.
Không, không phải là của một ai đó. Dù tôi chưa từng một lần nhìn thấy mặt ông ấy, nhưng chỉ cần nhìn bàn tay này tôi cũng có thể khẳng định chắc chắn.
Đó là bàn tay thô ráp và lạnh lẽo của ông Tom, cha của Annie.
Annie nắm lấy bàn tay đang tỏa sáng ấy. Sự tiếp xúc giữa bàn tay đã lạnh ngắt và bàn tay đang nóng hầm hập vì sốt cao. Sau đó, Annie nâng bàn tay của cha mình lên, đặt một nụ hôn lên mu bàn tay, áp má mình vào đó, rồi lại hôn lên một lần nữa.
“Cha ơi, chào cha.”
Annie nhẹ nhàng đặt bàn tay của ông Tom xuống.
Với một gương mặt vô cùng bình thản, và vẫn không hề rơi một giọt nước mắt nào.
Bất thình lình, ánh sáng của ông Tom tuôn trào ra từ những đầu ngón tay, rồi từ từ tiến về phía Annie.
Annie đưa tay ra bao bọc lấy luồng sáng ấy như muốn đón nhận nó, và khi em mở đôi bàn tay đang chắp lại ra, ánh sáng đã hoàn toàn biến mất.
“Đây là... di vật của cha.”
Annie hiểu rất rõ luồng sáng ấy là gì. Nó là của ai, có thể làm được những gì, và từ nay về sau nó sẽ đồng hành cùng ai.
Khi Annie đặt tay lên đầu gối trái của mình – nơi vết thương đang sưng tấy và chỉ nhìn thôi cũng thấy đau nhói – một luồng sáng xanh thẫm, Tinh linh của ông Tom, bỗng lóe sáng.
Và vết thương biến mất.
Không chỉ có vết thương ở đầu gối. Cả những vết xước có từ lúc ở dưới hố, cả những vết bầm tím do phải đi bộ suốt nửa ngày trời với xiềng xích trên chân, tất cả đều đã lành lặn một cách sạch sẽ.
Chứng kiến cảnh tượng đó, những người đã từng ở bên ông Tom suốt một tháng qua bắt đầu vây quanh chúng tôi.
Họ cũng không mất quá nhiều thời gian để hiểu ra tình hình. À không, tôi có cảm giác như họ thậm chí còn nhận ra nhanh hơn chúng tôi, cứ như thể họ đã biết trước từ lâu rồi vậy.
“Cháu là Annie sao?”
“Trông y hệt những gì lão kể luôn!”
“Không phải đâu! Nhìn bên ngoài xinh hơn nhiều!”
Bắt đầu từ những lời đó, đủ mọi kiểu chào hỏi đổ dồn về phía chúng tôi. Nào là cháu đến đây bằng cách nào, còn lũ tội phạm bị truy nã kia thì sao, rồi anh chàng đứng cạnh kia là ai...
Annie đã không thể gặp được ông Tom. Thay vào đó em phải đối diện với cái chết của ông, thậm chí còn không được nhìn mặt lần cuối mà chỉ được nghe rằng thi thể đã bị hủy hoại.
Thế nhưng, gương mặt Annie lúc này trông thật bình yên. Không thể nói là không có nỗi buồn, nhưng dường như em đã nhận được một điều gì đó còn lớn lao hơn thế.
Hòa mình vào giữa họ, Annie cất tiếng hỏi điều mà em thực sự muốn biết, điều mà em luôn canh cánh trong lòng kể từ lần đầu tiên gặp tôi cho đến tận bây giờ.
“... Cha cháu đã sống ở đây như thế nào ạ?”
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
