Ngắm nhìn những mái lều Yurt
Ba ngày trôi qua kể từ khi chúng tôi đón bà Maya và mọi người về. Nhìn lại khu trại đang dần mở rộng, lòng tôi không khỏi dâng lên một cảm xúc khó tả. Ở đó có căn lều Yurt của tôi và Alna, rồi lều của Klaus, nhà kho, chuồng gia súc, nhà vệ sinh, giếng nước, và giờ là thêm ba căn lều nữa của những người lớn tuổi. Theo gợi ý của bà Maya, tôi còn dựng thêm một căn lều lớn hơn để làm sảnh hội họp cho cả nhà.
Tuy quy mô chưa thể sánh bằng làng của tộc Onikin, nhưng cảnh tượng những mái lều đứng san sát nhau thế này trông cũng bề thế và ra dáng lắm chứ. Tôi thầm nghĩ, với quân số hiện tại, có lẽ chúng tôi đã đủ tiêu chuẩn để gọi đây là một "ngôi làng" rồi. Nhưng nếu đã là làng, thì nên đặt tên là gì cho hợp nhỉ? Mấy cái tên như "Làng Thảo Nguyên" hay "Làng Yurt"... nghe cứ thấy đơn điệu sao ấy, chẳng đọng lại chút ấn tượng nào.
Nghĩ mãi không ra, tôi quyết định đi hỏi ý kiến mọi người. Thấy Francis và Francoise đang thong thả chải lông bên cạnh, tôi gọi chúng đi cùng rồi hướng về phía sảnh hội họp. Ở đó, Alna và các bà đang mải miết với công việc xử lý lông cừu Baar.
Chuyện là thế này, lông cừu sau khi xén xong không thể dùng ngay được. Phải trải qua công đoạn giặt sạch, đánh tơi rồi mới đem dệt. Đây là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và tốn rất nhiều thời gian, mà trước đây vì thiếu nhân lực nên tôi và Alna toàn phải đem lông thô đi đổi chác với làng Onikin.
Thế nhưng, ngay khi bà Maya và nhóm của bà nhìn thấy mớ lông ấy, họ đã thốt lên rằng chất lượng lông quá tuyệt vời, nếu cứ thế đem đi đổi thì phí phạm vô cùng. Họ khuyên tôi nên sơ chế chúng để nâng cao giá trị, và nếu kéo được thành sợi thì chính tay họ có thể dệt nên những món đồ hữu ích ngay tại đây.
Hóa ra ở làng cũ, các bà cũng thường xuyên làm những việc này. Họ khao khát được lao động, phần vì muốn tự tay dệt nên những tấm vải đẹp, phần vì lòng tự trọng — họ không muốn chỉ hưởng thụ sự bảo bọc của tôi mà không đóng góp gì. Bà Maya nói rằng bà và những người bạn của mình muốn được cống hiến một phần sức lực cho vùng đất này.
Alna cũng đồng tình với quan điểm đó. Cô ấy bảo người già thì nên vận động và làm việc chân tay một chút cho khuây khỏa, nếu không sẽ dễ sinh bệnh hoặc trí tuệ kém minh mẫn đi. Vậy là chúng tôi quyết định giao toàn bộ khâu xử lý lông Baar cho bà Maya. Từ những túm lông thô, các bà sẽ kéo thành những sợi chỉ bền chắc, dùng để giao thương hay may mặc cho cả nhà đều tiện.
Dù vậy, tôi vẫn dặn bà Maya giữ lại một phần lông thô để duy trì mối làm ăn với tộc Onikin. Nhận được sự tin tưởng và "giấy phép" làm việc, ai nấy đều rạng rỡ hẳn lên. "Cứ tin ở chúng tôi, cậu sẽ thấy kết quả mỹ mãn cho xem," họ cười bảo tôi như thế.
Sau bữa sáng, sảnh hội họp trở thành một công xưởng nhỏ. Tiếng giặt giũ, tiếng đánh tơi lông và tiếng lạch cạch của những chiếc guồng quay tơ mượn từ tộc Onikin vang lên rộn rã. Cuộc sống bận rộn nhưng dường như ai cũng tìm thấy niềm vui trong đó.
Khi lại gần sảnh, tôi nghe thấy tiếng hát của bà Maya và mọi người vọng ra từ trong lều, một giai điệu dịu dàng làm ấm sực cả con tim.
Hỡi sợi chỉ mảnh, sợi chỉ mềm,
Xoay vần theo nhịp, cuốn dài thêm.
Sợi là báu vật dâng lên Chúa,
Kết tinh lòng kính, gửi trao Ngài.
Hỡi sợi chỉ nhỏ, sợi chỉ xinh,
Xe thắt yêu thương, dệt nghĩa tình.
Cầu cho Phu nhân ta xinh đẹp,
Sớm bồng quý tử, vạn điều may.
Họ cứ hát đi hát lại bài ca ấy khi làm việc. Thú thực, nghe mấy câu cuối tôi cũng thấy hơi "nhột", nhưng thôi, thấy mọi người đang vui vẻ nên tôi cũng chẳng nỡ vào cắt ngang làm gì. Tôi lặng lẽ vén màn cửa bước vào sảnh.
Hôm nay là ngày dệt vải. Tiếng thoi đưa lạch cạch lấp đầy không gian. Mọi người đều đang ngân nga hoặc cười nói vui vẻ. Khi thấy tôi xuất hiện, nhịp làm việc mới dần chậm lại rồi dừng hẳn.
"Có chuyện gì sao, cậu nhóc Dias?" Bà Maya hỏi với vẻ quan tâm. "Trông mặt cậu có vẻ đang ưu tư điều gì đó, khác hẳn mọi khi nhé."
Bà lão vừa nói vừa gật gù, khuôn mặt nhăn nheo nhưng đôi mắt tinh anh dưới cái mũi khoằm như chim ưng trông thật phúc hậu. Dù chẳng biết tầm tuổi này mình còn được gọi là "nhóc" không, nhưng tôi cũng thật lòng bày tỏ:
"Dạ, tại thấy người cũng đông hơn, lều trại cũng nhiều hơn rồi, nên cháu định đặt tên cho nơi này là một ngôi làng. Chỉ là cháu nghĩ mãi mà chẳng ra cái tên nào ra hồn cả. Mọi người có ý kiến gì không ạ?"
Thế là các bà bắt đầu xôn xao bàn tán, đưa ra đủ loại tên.
Làng Dias? Không, bỏ qua ngay lập tức. Làng Dias Alna? Nghe sến quá. Làng Tình Yêu? Thôi xin...
Đúng lúc đó Klaus tới, anh ta hào hứng đề xuất cái tên "Làng Sát Long Nhân". Nghe kêu thì kêu thật đấy nhưng dài dòng quá, tôi gạt đi luôn không cần suy nghĩ.
Đúng là đặt tên khó hơn tôi tưởng nhiều. Hay là gọi đại là Làng Francis nhỉ?
Giữa lúc đó, tôi thấy Alna có vẻ như vừa nảy ra ý tưởng gì đó.
"Hay là gọi là Làng Iluk đi? Trong ngôn ngữ cổ, 'Iluk' có nghĩa là 'Khởi đầu'. Vừa dễ nhớ, vừa mang ý nghĩa tốt đẹp, mà nghe cũng xuôi tai nữa."
Làng Iluk... Iluk... Nghe hay đấy chứ!
Tôi nhìn một lượt quanh sảnh. Trừ Klaus trông có vẻ hơi hậm hực vì cái tên hầm hố của mình bị bác bỏ, còn lại tất cả mọi người đều gật đầu tán thành. Vậy là cái tên cho khu định cư đầu tiên tại lãnh địa Nezrose đã được quyết định: Làng Iluk.
Từ chỗ chẳng có gì trong tay, giờ đây tôi đã có những người dân đầu tiên, có một ngôi làng và bắt đầu sản xuất được sản phẩm thủ công. Đó thực sự là một bước tiến dài. Tôi tự hứa sẽ giữ vững đà phát triển này, để rồi mai đây, những ngôi làng như Iluk sẽ mọc lên khắp vùng đất này, tràn ngập sự bình yên và sức sống.
Ơ, mà sao tự nhiên mọi người đứng hết dậy thế kia? Công việc xong rồi à? Hóa ra theo phong tục, khi một ngôi làng chính thức được khai sinh, người ta phải tổ chức tiệc ăn mừng sao? Một bữa đại tiệc?
Tôi chưa từng nghe về tục lệ này, nhưng tất nhiên là tôi không phản đối rồi. Tôi muốn mọi người có một kỷ niệm thật vui.
Bữa tiệc tối hôm đó, thành thực mà nói, khá là giản dị.
"Chúng ta sẽ hát ca nhảy múa suốt đêm nay!" Bà Maya hô lớn.
Dù đã làm việc từ sáng sớm nhưng các bà vẫn sung sức vô cùng, tiếng vỗ tay và tiếng hát vang động cả một vùng.
"Cái gì? Tôi á? Nhảy với Francis và Francoise?!"
Klaus bị mọi người kéo vào vòng tròn, thế là anh ta đành ngượng nghịu nhảy múa quanh đống lửa cùng với hai chú cừu Baar.
"Chúng ta cần phải kiếm thêm chút rượu thôi," Alna nói. "Thức ăn thì không thiếu, nhưng tiệc tùng mà thiếu chén rượu thì mất vui. Em á? Tất nhiên là em biết uống rồi. Một mình em có thể xử gọn cả bình lớn trong một đêm đấy."
Tôi hơi choáng váng khi biết cô gái trẻ này lại có tửu lượng đáng nể đến thế. Nhưng dù chưa có rượu, chúng tôi vẫn đánh chén tì tì món thịt nướng thảo mộc do chính tay Alna trổ tài. Khi mặt trời lặn và màn đêm buông xuống, đống lửa trại vẫn bập bùng, mọi người cứ thế chung vui cho đến tận khi ánh bình minh ló dạng ở phía chân trời bên kia.
Bữa tiệc của chúng tôi tuy còn thiếu thốn đủ đường, nhưng sự ấm áp và niềm vui giản đơn ấy thì chẳng gì sánh bằng. Không một ai muốn kết thúc khoảnh khắc hạnh phúc này. Ngày hôm sau, dù thức dậy vào lúc giữa trưa với đôi mắt ngái ngủ, mọi người vẫn râm ran bàn tán về bữa tiệc và tự hỏi khi nào thì mới có dịp tiếp theo.
Lại mở tiệc nữa sao?
Tôi bảo với mọi người rằng, chỉ cần có chuyện vui như lập thêm làng mới, hay tìm ra cách phát triển đất nước, tăng thêm dân số, chúng ta sẽ lại mở tiệc linh đình. Ngay lập tức, tôi thấy những đôi mắt xung quanh sáng rực lên.
Cái khí thế này hoàn toàn khác hẳn với lúc tôi hỏi ý kiến về cái tên làng. Một sự nhiệt huyết sục sôi dâng trào trong mắt họ. Tôi thấy mừng, nhưng cũng có chút... bối rối trước sự thay đổi chóng mặt này.
"Được rồi, được rồi," tôi trấn an mọi người. "Vậy giờ hãy cùng nhau bàn xem làm thế nào để tăng dân số và phát triển làng Iluk nhé. Chúng ta cùng động não nào!"
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
