Làmg Iluk sau chuyến buôn
Sau khi bàn giao nguyên liệu rồng cho Peijin, đặt hàng mớ đồ cần thiết cho lần tới và nhờ ông ta loan tin rằng chúng tôi đang chiêu mộ cư dân, thương vụ đầu tiên giữa tôi và Peijin coi như kết thúc tốt đẹp. Dù có vài chuyện bất ngờ xảy ra, nhưng nhìn chung mọi thứ đều ổn thỏa cho lần đầu làm ăn. Quan trọng nhất là chúng tôi đã có được một kho nhu yếu phẩm đầy ắp.
Vì Peijin còn phải đi tiếp cho kịp hành trình, chúng tôi giúp ông ấy chuẩn bị rồi tiễn đoàn xe đi. Khi bóng đoàn người khuất hẳn nơi đường chân trời, tôi cùng Francis và Francoise rảo bước về phía kho lương.
Alna, Klaus và bà Maya vẫn đứng đó bên mớ hàng hóa mới và hai đứa trẻ song sinh. Hai cô bé vẫn trơ ra như phỗng, chưa thốt ra lấy một lời. Nói thật là tôi hơi ngạc nhiên khi thấy Alna, Klaus và cả bà Maya đều lộ vẻ lúng túng. Có vẻ họ không được khéo tay lắm trong việc dỗ dành con nít.
"Klaus, cất giùm ta cái này nhé?" Tôi đưa cây rìu cho cậu ấy rồi tiến về phía cặp song sinh.
Vừa đến gần, tôi liền bế bổng cả hai đứa lên. Tôi nâng chúng lên ngang tầm mắt để có thể nhìn thẳng vào mắt hai đứa khi nói chuyện.
"Hai cháu mấy tuổi rồi? Ba hay bốn? Nghe chú nói này: hai đứa gầy quá rồi đó, từ hôm nay phải ăn cho thật no nghe chưa. Alna nấu ăn giỏi lắm, đảm bảo ngon bá cháy luôn. À phải rồi, chú tên là Dias. Còn tên hai cháu là gì? Nói cho chú nghe được không?"
Hai cô bé vẫn im lặng. Gương mặt chúng không chút cảm xúc, đôi mắt xanh thẫm chẳng hề lay động. Nhưng tôi không dễ bỏ cuộc đâu. Bọn trẻ sẽ sớm nhận ra rằng chú Dias này từng chăm sóc cả đàn trẻ mồ côi nên "lỳ" lắm. Tôi cứ thế luyên thuyên đủ thứ: "Hai đứa thích chơi trò gì? Thích ăn món gì nhất? Rồi tên hai đứa là gì nhỉ?" Tôi hỏi về những bài hát chúng thích, những câu chuyện cổ tích chúng từng nghe, rồi lại hỏi lại tên của chúng. Miệng tôi không rời nụ cười, mắt vẫn nhìn thẳng vào chúng mà thủ thỉ.
"Sao lại im lặng thế này? Hay là hai đứa không có tên? Nếu vậy thì để chú đặt tên cho nhé? Chú mát tay trong khoản đặt tên lắm đó nha. Trước đây chú đặt cho khối người rồi, để chú nghĩ cái tên nào thật hay cho hai đứa nào... Xem nào... Tên gì thì hợp đây? Hai đứa là con gái, hay là đặt cái gì đó thật dễ thương nhỉ?"
Ngay lúc đó, tôi bắt gặp một tia phản ứng trong mắt chúng. Tôi biết chắc một điều: cha mẹ của cặp song sinh này đã yêu thương chúng đến mức sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để cứu con mình, và chắc chắn hai đứa trẻ cũng yêu cha mẹ chúng sâu đậm như thế. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng sẽ vô cùng trân trọng cái tên mà cha mẹ đã đặt cho.
"Không!" một đứa bé thốt lên.
"Tụi con không cần tên mới!" đứa còn lại cũng hét theo.
Nghe thấy chúng mở miệng, tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng tôi cũng có thể gạt bỏ nụ cười "diễn" nãy giờ để thay bằng một nụ cười thật tâm. Nãy giờ chúng không nhúc nhích hay nói năng gì làm tôi cứ lo: không biết là do nỗi tuyệt vọng vì mất cha mẹ, hay là do chúng sợ hãi không muốn người lạ đến gần? Có lẽ là cả hai.
Khi trẻ con rơi vào trạng thái đó, chúng thường tự nhốt mình trong một cái vỏ bọc tinh thần. Nếu không thoát ra được, kết cục thường rất đau lòng. Thế nên tôi thấy mừng: chính tình yêu dành cho cha mẹ đã giúp chúng phá vỡ cái vỏ đó. Tôi phải kìm nén ham muốn khen ngợi chúng để tập trung vào vấn đề chính.
"À, ra là không thích tên mới hả? Vậy nói cho chú biết tên hai đứa là gì được không? Chứ không biết gọi làm sao thì khó cho mọi người lắm."
"Senai."
"Ayhan."
"Senai và Ayhan! Chà, tên đẹp tuyệt vời luôn! Cảm ơn hai cháu đã nói cho chú biết nhé! Được rồi! Bây giờ chú và anh Klaus đằng kia sẽ dọn dẹp mớ đồ này. Trong lúc đó, hai cháu đi với cô Alna và bà Maya ra sông tắm rửa rồi thay đồ sạch nhé. Hai đứa cũng nên ăn chút gì đó nữa. Được không nào?"
Hai cô bé liếc nhìn Alna và những người khác, dù có vẻ không hào hứng lắm nhưng cũng khẽ gật đầu.

Biết là mọi chuyện đã ổn, tôi nhẹ nhàng đặt chúng xuống đất rồi nhìn sang Alna và bà Maya đang đứng ngẩn ngơ vì kinh ngạc. Tôi nhờ họ chăm sóc lũ trẻ như đã định. Dù hai người trông như có cả ngàn câu hỏi muốn hỏi, nhưng họ hiểu chuyện gì cần làm trước. Họ nắm tay Senai và Ayhan, vừa dắt đi vừa thủ thỉ những lời dịu dàng.
Nhìn bóng họ xa dần, Klaus tiến lại gần tôi, tay ôm cây rìu, miệng cười toe toét.
"Tôi ngạc nhiên quá, ngài Dias," cậu ấy nói. "Tôi không ngờ ngài lại khéo dỗ trẻ con đến thế."
"Chắc ta chưa kể, nhưng trước khi đi lính, ta từng làm việc ở trại trẻ mồ côi. Mấy chiêu nãy là ta học được hồi đó cả đấy. Ta chẳng khác gì gà mẹ, việc gì cũng làm qua rồi, kể cả chăm trẻ sơ sinh."
"Chà, ra là vậy. Thế đứa trẻ sơ sinh đó cũng là một trong những người được ngài đặt tên sao?"
"Phải, đứa đó và vài đứa nữa. Có đứa muốn bỏ tên cũ, có đứa thì chẳng nhớ nổi mình tên gì. Mỗi đứa một cảnh, tính ra ta cũng đặt tên cho cả chục đứa rồi. Hy vọng giờ tụi nó đều bình an."
"Thế chuyện gì đã xảy ra với chúng khi ngài đi lính?"
"Còn một anh bạn nữa cùng ta trông nom bọn trẻ, anh ấy ở lại nên ta giao phó hết cho anh ấy. Nhưng giờ ta cũng chẳng rõ anh ấy ở đâu, làm gì nữa..."
"Nếu anh ấy còn khỏe mạnh, có lẽ một ngày nào đó danh tiếng của ngài sẽ bay xa, và anh ấy sẽ tìm đến đây thôi."
"Ừ, mong là vậy. Thôi, bắt tay vào dọn dẹp mớ nhu yếu phẩm này đi. Nhìn danh sách của Peijin thì chuyến này hốt bạc thật đấy, không nhanh tay là làm tới đêm luôn bây giờ."
Klaus và tôi nhanh chóng bắt tay vào sắp xếp mớ đồ ăn là chính. Không có nhiều thời gian nên chúng tôi không kiểm tra kỹ từng tí một, nhưng vẫn mở các thùng và bao tải để đối soát với danh sách.
Nào là thịt khô, cá khô, rồi cả nho khô. Mười bao bột mì lớn và một thùng hạt óc chó còn nguyên vỏ. Nhiều óc chó thật đấy! Lại còn một thùng rượu vang nữa, tôi phải giấu nó vào góc sâu nhất trong kho để Alna khỏi thấy. Rồi da thú đã thuộc, quặng, và ba thùng muối. Còn có cả xúc xích và phô mai, vậy là Senai và Ayhan sẽ có đồ bổ để ăn rồi.
Những thứ không phải thực phẩm được xếp vào phía sau, còn đồ dễ hỏng thì để gần cửa. Nguyên liệu từ rồng vẫn còn khá nhiều, cái kho bắt đầu có dấu hiệu quá tải. Chắc sắp tới phải nới rộng nó ra thôi.
"Được rồi, xem như đủ hết theo danh sách. Hửm? Cái hộp nhỏ này là gì đây?"
Nó không có số thứ tự như những món khác, mà mọi thứ trong danh sách đều đã dọn xong rồi. Tôi nhìn tờ giấy rồi lại nhìn cái hộp, nghiêng đầu thắc mắc. Klaus cũng tiến lại gần, nhìn qua nhìn lại rồi cũng nghiêng đầu y hệt tôi.
"Hộp gì vậy ngài Dias?"
"Ta cũng chịu. Chắc là Peijin để lại nhưng không ghi vào danh sách. Mở ra xem thử đi."
Klaus gật đầu, cầm lấy cái hộp: "Để tôi mở cho chắc, ngài cứ cẩn thận."
Cậu ấy chậm rãi mở nắp, để lộ những món đồ bên trong. Hóa ra đó là một hộp đựng đủ thứ phụ kiện kỳ lạ.
"À, ta hiểu rồi," tôi nói. "Chắc mấy thứ này không có giá trị mấy nên Peijin mới không thèm ghi vào danh sách chăng?"
Klaus gật đầu rồi bắt đầu lấy từng món ra. Có cái hình tròn, cái hình vuông, cái lại hình trụ. Tôi chưa thấy chúng bao giờ nên chẳng biết dùng vào việc gì.
"Ồ, tôi biết cái này," Klaus reo lên. "Đây là kính viễn vọng. Nó dùng loại thủy tinh đặc biệt để nhìn rõ những thứ ở xa. Ở kinh đô, các hiệp sĩ hay dùng loại này. Chúng đắt tiền lắm đấy... Ơ, có tận hai cái luôn."
Klaus lấy hai ống hình trụ ra khoe với tôi. Chà, nghe có vẻ tiện lợi đấy chứ.
"Còn cái kim xoay vòng vòng trong vỏ kính này là la bàn thì phải? Chắc nó đang bị nhiễu bởi đống đồ kim loại trong hộp. Kìa, còn có cả bản đồ khu vực này nữa. Trông chi tiết hơn nhiều so với bản tôi từng thấy ở kinh đô. Rồi thì giấy, bút, mực. Còn mớ thanh thép mỏng uốn cong đầu này... chắc là để bẻ khóa rồi? Ô kìa, có cả còng tay nữa này."
Mấy món này chẳng liên quan gì đến nhau cả. Tôi chịu không hiểu nổi. Mà bán cho người ta bộ đồ bẻ khóa là ý gì chứ? Peijin và đám lính của ông ta mang theo mớ này làm gì không biết?
"Trong này còn có một cái giũa thép mỏng, và một con dao giấu trong khóa thắt lưng nữa. Mấy món này hơi nguy hiểm ngài nhỉ? Còn lại thì tôi cũng chịu, chẳng biết làm bằng gì hay dùng để làm gì."
"Thôi được rồi, cứ cất mấy thứ nguy hiểm vào hộp, đợi lần sau Peijin tới thì hỏi cách dùng sau. Nhưng cái kính viễn vọng kia có vẻ hữu ích, lấy ra dùng luôn đi. Còn bản đồ thì đem về lều của ta, để ai muốn xem thì xem."
Klaus gật đầu đồng ý, đóng nắp hộp lại và bảo sẽ cất nó trong lều của cậu ấy cho an toàn, tránh xa tầm tay trẻ con.
Dọn dẹp xong xuôi cũng là lúc Alna và bà Maya dắt hai cô bé đã được tắm rửa sạch sẽ quay lại. Tất nhiên là chưa có quần áo trẻ con nên hai đứa được quấn trong những tấm vải len cừu Baar, buộc ngang hông bằng dây thừng. Nhìn thế này vẫn sang chán so với đống giẻ rách lúc trước. Chân chúng cũng được quấn vải như đôi ủng nhỏ, dù vùng đồng bằng này chẳng có gì sắc nhọn để làm đau chân, nhưng cẩn thận vẫn hơn.
Được rồi, để chú bế hai đứa lên nói chuyện tiếp nào... Hử? Alna, sao nàng lại chặn đường ta thế?
"Chàng không để ý à, nãy giờ bê vác đống thùng đó xong, người chàng bẩn thỉu hết rồi," Alna nhắc nhở. "Muốn lại gần bọn trẻ thì đi tắm rửa trước đi."
Tôi nhìn lại quần áo và tay chân mình, quả đúng như nàng ấy nói. Thế là tôi lủi thủi dắt Klaus và đàn cừu Baar ra sông. Trên đường đi, tôi ngoái đầu lại và thấy Senai cùng Ayhan đã bắt đầu mở lòng hơn, chúng mỉm cười khi trò chuyện với Alna.
"Thích thật đấy," tôi lầm bầm.
Thấy cảnh đó tôi thực sự thấy mừng, không có chút ghen tị nào đâu nhé. Chắc là vì thấy tôi "lẻ loi" nên Francis và Francoise mới xúm lại cọ cọ vào người tôi để an ủi.
"Ta không sao mà, mấy đứa," tôi vỗ về chúng.
Be be!
Be be!
Cuối cùng, tôi đành phải đón nhận sự an ủi "nồng nhiệt" của chúng vậy.
Khi tôi tắm xong và thay đồ sạch quay lại lều thì mặt trời đã lặn. Mọi người đang tụ tập trước kho lương. Alna ngồi giữa với Senai và Ayhan, xung quanh là bạn của bà Maya đang ríu rít khen hai đứa nhỏ đáng yêu. Chỉ có bà Maya đứng hơi xa một chút, lặng lẽ quan sát.
Lại gần hơn, tôi thấy Alna đang tết tóc cho Senai. Nàng bảo sẽ tết cho Senai trước rồi đến lượt Ayhan, giải thích rằng với phụ nữ vùng đồng bằng, bím tóc là rất quan trọng. Alna mang theo một cái hộp gỗ chạm trổ tinh xảo mà nàng rất trân quý, bên trong đầy ắp những món trang sức lấp lánh.
Giữa mớ trang sức đó có những vòng cài tóc hình tròn, Alna luồn những sợi dây đỏ qua rồi tết chúng vào bím tóc của Senai. Những món đồ trang trí lủng lẳng ở đuôi tóc, Alna giải thích đây là kiểu tóc đặc trưng của phụ nữ Onikin.
Việc tết và gỡ tóc tốn rất nhiều thời gian, nhưng Alna vẫn làm mỗi ngày sau khi gội đầu. Có lần tôi hỏi nàng làm thế không thấy phiền sao, nàng bảo đã làm từ nhỏ rồi nên nó như một phần hơi thở, chưa bao giờ thấy phiền cả.
"Cái này gọi là Salyakut, một loại ngọc xua đuổi bệnh tật. Còn cái này là Safish, ánh sáng của nó sẽ bảo vệ cháu khỏi kẻ thù."
Alna kiên nhẫn giải thích từng món trang sức khi tết tóc cho Senai. Con bé có vẻ rất thích, nó mỉm cười rạng rỡ. Trong khi đó, Ayhan chăm chú nhìn đôi tay khéo léo của Alna và lắng nghe không sót một chữ.
Alna dịu dàng nói rằng nàng sẽ tết tóc cho hai đứa cho đến khi chúng lớn khôn và có thể tự làm. Cặp song sinh gật đầu lia lịa. Sau khi được tắm rửa và ăn no, trông chúng bình tĩnh và dễ bảo hơn hẳn.
Nhìn cảnh tượng ấm áp đó, tôi thấy lòng mình nhẹ nhõm, và rồi Francis với Francoise lại bắt đầu màn cọ quấy an ủi tôi.
Thôi nào hai đứa, ta đã bảo là không có ghen tị mà, ta chỉ thấy mừng vì mọi người hòa thuận thôi. Thật đấy! Ta nói thiệt mà!
Đang mải "tranh luận" với đàn cừu thì bà Maya tiến lại gần tôi, vẻ mặt hơi trầm ngâm.
"Cậu có nhận ra tụi nhỏ không phải con người không?"
Câu hỏi bất ngờ làm tôi sững người, cau mày khó hiểu. Bà đang nói cái gì vậy?
"Khoan đã. Nhìn kiểu gì thì chúng cũng là trẻ con loài người mà," tôi cãi lại. "Bà đừng có bảo tụi nhỏ là quái vật đó nhé?"
"Ý tôi không phải vậy. Tôi chỉ muốn nói chúng không phải 'nhân tộc' thuần túy. Cậu nhìn kỹ đôi tai của chúng mà xem. Nó dài và nhọn đúng không?"
Tôi nhìn kỹ hơn và hóa ra bà Maya nói đúng. Tai của chúng nhọn và dài hơn bình thường. Nhưng thì đã sao, chỉ là cái tai thôi mà...
"Bà này, con người ai chẳng có nét khác nhau, tai cũng vậy thôi chứ?"
"Tôi không chỉ nói về vẻ ngoài. Tôi cảm nhận được một nguồn năng lượng đặc biệt từ chúng; gọi là 'khí chất' cũng được. Tôi đã băn khoăn mãi từ lúc gã người ếch kia gọi chúng là 'điềm báo thảm họa'. Có lẽ tôi hơi nhạy cảm quá, nhưng cậu nhớ để mắt đến chúng nhé, Dias?"
"Hừm. Được rồi, tôi nghe bà. Dù sao thì tôi cũng không định để chúng rời khỏi tầm mắt lúc này, tôi sẽ cẩn thận."
"Trông cậy vào cậu đấy, chàng trai diệt rồng. Nếu có chuyện gì xảy ra, chúng tôi đều dựa vào cậu cả. Mà biết đâu, thảm họa nào thấy mặt kẻ diệt rồng cũng phải quay đầu chạy mất dép thôi."
Bà Maya cười khà khà rồi quay lại nhập hội với bạn mình để ngắm hai đứa nhỏ.
Vậy ra tụi nhỏ không phải con người sao?
Nếu chỉ là không phải con người thì Alna và tộc Onikin cũng thế thôi, nhưng lời bà Maya dường như ẩn chứa điều gì đó sâu xa hơn. Cứ như thể hai đứa trẻ này có gì đó vô cùng đặc biệt. Nhưng với tôi, chúng vẫn chỉ là những cô bé đáng yêu với đôi tai hơi dài một chút thôi.
Trong khi tôi mải suy nghĩ, bím tóc của Senai và Ayhan đã xong xuôi. Hai đứa có vẻ khoái chí lắm, cứ nhảy cỡn lên khiến mớ trang sức va vào nhau lanh lảnh dưới ánh hoàng hôn. Rõ ràng là những đứa trẻ bình thường mà.
"Bím tóc đẹp lắm đó, Senai và Ayhan," tôi lên tiếng khen.
Tôi bước lại gần, hai đứa trẻ nâng bím tóc lên khoe.
"Nhìn nè! Nhìn nè! Đẹp quá xá luôn," một đứa nói.
"Lại còn lấp lánh nữa!" đứa kia tiếp lời.
Dù nụ cười vẫn còn chút gượng gạo, nhưng tôi thực sự kinh ngạc trước việc chúng mở lòng nhanh đến thế. Thật khó tin đây chính là hai đứa trẻ mới vài tiếng trước còn thu mình trong bóng tối. Tôi chợt nhận ra: vũ khí lợi hại nhất đối với mọi cô bé chính là trang sức và những thứ xinh xắn.
"Thế cái viên ngọc này là gì vậy?" Tôi quỳ xuống để nhìn ngang tầm mắt chúng.
Hai đứa nhỏ vụng về, gọi nhầm tên lung tung nhưng vẫn cố hết sức giải thích về mớ trang sức trên đầu mình, khiến tôi không nhịn được cười. Chỉ cần thấy chúng hạnh phúc là tôi vui rồi, thế là tôi cứ hỏi hết món này đến món kia để nghe chúng líu lo kể chuyện.
Lúc đó, Alna lấy ra từ hộp hai viên ngọc màu vàng hơi to quá khổ để cài tóc, rồi nàng bắt đầu hí hoáy làm gì đó. Nàng dùng một cây kim thép đục lỗ, mài nhẵn bằng một miếng da thú nhám rồi luồn dây qua. Nàng đang làm dây chuyền.
Làm xong, nàng đặt hai sợi dây chuyền vào lòng bàn tay rồi đưa về phía Senai và Ayhan.
"Senai," Alna nói chậm rãi và dịu dàng, "trong cổ ngữ, tên của cháu nghĩa là 'vẻ đẹp tựa ánh trăng'. Còn Ayhan, tên của cháu là 'vầng trăng thánh'. Cô không biết vì sao cha mẹ cháu đặt tên như vậy, nhưng chắc chắn họ có một mối liên kết sâu sắc với mặt trời và mặt trăng. Vì thế, cô tặng hai cháu viên ngọc Ahi này, người ta bảo nó mang sức mạnh của trăng. Viên tròn dành cho Senai, còn viên hình lưỡi liềm là của Ayhan. Hãy giữ gìn thật kỹ nhé."
Alna đeo dây chuyền vào cổ hai đứa trẻ. Cặp song sinh vừa vui sướng khi nhận quà, vừa ngỡ ngàng khi biết ý nghĩa cái tên của mình. Nhưng rồi nỗi buồn lại ập đến khi chúng nhớ về cha mẹ, và rồi cả hai òa khóc nức nở.
Tôi và Alna nhìn nhau gật đầu. Tôi bế Senai vào lòng, xoa đầu dỗ dành, còn Alna ôm lấy Ayhan và vỗ về sau lưng. Tôi cảm nhận được hơi ấm và sự rung động của Senai khi con bé khóc, tay tôi vẫn không ngừng xoa dịu nó.
Tôi không ngờ cái tên của chúng lại ý nghĩa đến vậy. Alna bảo là trong cổ ngữ... Khoan đã. Cổ ngữ?
"Này Alna," tôi hỏi. "Hồi đặt tên làng nàng cũng nhắc tới cổ ngữ, ta cứ tưởng đó là chuyện của tộc Onikin thôi chứ. Nàng nghĩ cha mẹ của Senai và Ayhan có liên quan gì đến tộc của nàng không?"
"Thiếp không biết nữa," Alna vừa vỗ về Ayhan vừa đáp. "Cổ ngữ không còn được sử dụng từ lâu lắm rồi, giờ nó chỉ tồn tại trong những truyền thuyết cổ xưa. Có thể có những bộ tộc khác ngoài Onikin biết nó, cũng có thể không. Thiếp không dám chắc. Nhưng Senai và Ayhan đều không phải nhân tộc, biết đâu trong quá khứ tổ tiên của họ từng giao bang với tộc Onikin chăng."
Hừm. Hết đôi tai nhọn lại đến cổ ngữ. Tôi tự nhủ phải ghi nhớ hai điều này cho sau này.
Đúng lúc đó, Francis và Francoise lại tiến tới, dụi đầu vào người tôi và kêu lên những tiếng lớn.
"Đàn cừu muốn an ủi hai đứa nhỏ đấy," Alna dịch giùm. "Chúng bảo chúng là chuyên gia trong việc dỗ dành trẻ con."
Tôi đặt Senai xuống, Alna cũng đặt Ayhan đứng cạnh, rồi chúng tôi nhường sân khấu lại cho đôi cừu... hay nói đúng hơn là nhường mớ lông êm ái của chúng cho hai đứa trẻ. Đàn cừu cọ vào người hai cô bé. Cảm nhận được lớp lông mềm mại, hai đứa lập tức ôm chầm lấy chúng, rúc mặt vào đống lông ấm sực mà nức nở. Chỉ một lúc sau, cả hai đã ngủ thiếp đi ngay tại chỗ.
Tôi chẳng biết nói gì hơn, nhưng thực sự khâm phục "tuyệt chiêu" của đám cừu Baar này. Từ ngày có đệm và chăn làm bằng lông cừu Baar, tôi cũng ngủ ngon hơn hẳn.
Hai con cừu hếch mũi lên đầy tự hào nhìn tôi như muốn nói: "Thấy chưa? Đã bảo mà!"
Tôi, Alna và tất cả mọi người đứng xung quanh đều bật cười khe khẽ, cố không làm thức giấc hai thiên thần nhỏ đang say ngủ.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
