Lãnh Chúa Biên Cảnh Khởi Đầu Với Hai Bàn Tay Trắng

Chương kế tiếp:

Truyện tương tự

Tiểu Nữ Hầu Như Tôi Thay Tiểu Thư Chăm Sóc Bạn Trai Thì Đã Sao?

(Đang ra)

Tiểu Nữ Hầu Như Tôi Thay Tiểu Thư Chăm Sóc Bạn Trai Thì Đã Sao?

Tương Đình Bạch Thố

Giang Tuệ vốn chỉ muốn đùa bỡn tình cảm của đàn ông thôi, đâu có nói sẽ dâng cả trái tim mình vào chứ...

28 289

Đông kinh: Ta vua màn ảnh thanh trang bị

(Đang ra)

Đông kinh: Ta vua màn ảnh thanh trang bị

Cẩm Mộc Chi Tâm

Nguồn truyện: https://reader.novel.qq.com/detail/1057396956?source=m_jump, Sói Miu Miu

43 53

Thế giới thay đổi nhờ kịch bản "Vừa ăn cướp vừa la làng"!?

(Đang ra)

Thế giới thay đổi nhờ kịch bản "Vừa ăn cướp vừa la làng"!?

オーメル

Thời gian trôi qua, Saito đã trở thành một người đi làm và vẫn đều đặn gửi tiền chu cấp cho gia đình. Giữa những ngày tháng bị thống trị bởi sự nhàm chán, anh biết tin em gái mình đã trở thành thần tư

190 846

Tôi đã ước có thể học trực tuyến.

(Đang ra)

Tôi đã ước có thể học trực tuyến.

kkumkkuneungomtaengi (꿈꾸는곰탱이)

Tôi đâu có muốn mọi thứ thành ra thế này.

16 15

Hệ Thống! Ta Không Làm Thánh Nữ Nữa Đâu!

(Đang ra)

Hệ Thống! Ta Không Làm Thánh Nữ Nữa Đâu!

Bất Lạc Phong (Gió Không Rơi)

Mở tờ báo ra, chỗ nào cũng thấy chính mình...

204 499

AI KÉO CÂU HỒN SỨ CỦA ĐỊA PHỦ VÀO PHÓ BẢN QUỶ DỊ THẾ?

(Đang ra)

AI KÉO CÂU HỒN SỨ CỦA ĐỊA PHỦ VÀO PHÓ BẢN QUỶ DỊ THẾ?

沈舟渡川

"Lũ quỷ kia, mau chạy đi! Kẻ buôn người... à không, kẻ buôn quỷ đến rồi kìa!"

100 457

Vol 1 - Một buổi sáng, ba tuần sau đó, bên miệng giếng cạnh căn lều Yurt

Một buổi sáng, ba tuần sau đó, bên miệng giếng cạnh căn lều Yurt

Dưới ánh nắng ban mai rạng rỡ, tôi đứng bên chiếc giếng đá có mái che bằng gỗ. Tôi kéo sợi dây thừng qua ròng rọc, nhấc bổng một xô nước đầy rồi đổ vào một chiếc xô khác. Cầm lấy quai xô, tôi tự nhủ với lòng mình rằng hôm nay nhất định sẽ không để đổ một giọt nước nào.

Nhớ lại những ngày đầu khi chiếc giếng vừa xây xong, mọi chuyện chẳng hề dễ dàng chút nào. Lúc đó tôi mù tịt về cách dùng giếng, khi thì kéo dây quá mạnh làm rối tung cả hệ thống ròng rọc, khi lại quá tay khiến cái xô gỗ vỡ tan tành. Ngay cả khi may mắn kéo được nước lên, tôi cũng vụng về làm đổ sạch lúc rót sang xô khác, hoặc nếu không thì cũng trượt tay khi đang xách đi. Đúng là một mớ hỗn độn.

Phải mất cả tuần lễ tôi mới dần quen tay và thôi không phạm lỗi nữa. Tôi cũng đã học được cách thận trọng hơn khi mang nước. Tôi không muốn làm bẩn bộ quần áo mà Alna đã dày công may cho mình, nên bước đi vô cùng từ tốn. Trên người tôi là chiếc sơ mi làm từ len cừu Baar, khoác bên ngoài chiếc vest da Ghee đen và chiếc quần da cùng bộ. Trông chúng chẳng khác gì trang phục của tầng lớp quý tộc trong vương quốc, thế nên tôi cực kỳ ưng ý.

Thực ra, khi Alna bảo sẽ may đồ cho tôi, chính tôi đã yêu cầu kiểu dáng này. Và cô ấy đã làm tốt hơn cả mong đợi—đường kim mũi chỉ của Alna thực sự đạt đến trình độ bậc thầy, cảm giác khi mặc vào còn thoải mái hơn cả tưởng tượng. Nếu ai hỏi tôi, tôi sẽ không ngần ngại mà khẳng định rằng tay nghề của Alna chẳng hề thua kém bất kỳ thợ may tài hoa nào ở kinh đô.

Chính vì lẽ đó mà tôi mới phải giữ gìn như vậy. Cô ấy đã may bộ đồ này từ con số không, nên tôi muốn nâng niu nó hết mực. Tôi chậm rãi xách xô nước đến bên hông lều Yurt—nơi chúng tôi đặt những chai chứa nước uống—rồi cẩn thận rót vào từng chai một. Sau đó, tôi lại quay lại giếng và lặp lại công việc đó.

Trong lúc làm việc, tôi phóng tầm mắt nhìn quanh vùng đất bao quanh giếng, nhìn về phía thảo nguyên mênh mông hiu quạnh rồi khẽ thở dài. Những người Onikin đã bắt đầu xây chiếc giếng này ngay sau ngày tôi và Alna kết hôn—à không, đính hôn mới đúng—và hoàn thành nó trong hơn hai tuần. Tính đến nay cũng đã thêm một tuần nữa trôi qua, vậy là tròn một tháng kể từ ngày chúng tôi đính ước.

Một tháng ròng rã, vậy mà "lãnh địa" của tôi vẫn chỉ có tôi, Alna và hai con cừu Baar. Tôi vẫn chưa có lấy một người dân nào dưới trướng. Mục đích chúng tôi xây dựng nhà vệ sinh và chiếc giếng lớn này là để chuẩn bị cho sự gia tăng dân số sau này, chứ không phải chỉ dành riêng cho hai người. Những chuyến đi săn của tôi đã mang về vô số nguyên liệu để dựng lều Yurt, nhưng tất cả đều đang nằm im lìm trong kho. Càng nghĩ đến việc chúng bị bỏ phí, tôi lại càng thấy chạnh lòng. Tôi thậm chí đã dựng thử một cái để thực hành, nhưng bên trong vẫn trống huếch trống hoác.

Alna giờ là gia đình của tôi, chúng tôi sống cùng nhau, nên cô ấy tự nhận mình là công dân của lãnh địa này. Có lẽ bạn sẽ bảo cô ấy chính là "thần dân" đầu tiên của tôi, nhưng thật lòng, tôi chưa bao giờ coi cô ấy là cấp dưới, mà luôn xem cô ấy là một người thân yêu nhất.

Nếu tôi muốn nơi này trở nên náo nhiệt như ngôi làng Onikin với hàng dãy lều Yurt đầy sức sống, tôi nhất định phải tìm thêm người về đây. Khổ nỗi, tôi chẳng biết phải bắt đầu từ đâu, đầu óc cũng rỗng tuếch không một ý tưởng. Suốt những ngày qua, tôi đã vắt óc suy nghĩ đến mức kiệt sức, nhưng cuối cùng vẫn quay lại vạch xuất phát: chẳng có một kế hoạch nào ra hồn.

Tôi lại buông một tiếng thở dài thườn thượt, vai chùng xuống. Tôi thầm ước giá như thần dân của mình cứ thế từ trên trời rơi xuống, dù biết điều đó thật ngớ ngẩn. Ngay lúc đó, tôi thấy Alna đang chạy về phía mình với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Chẳng lẽ có chuyện gì tốt lành sao?

"Dias! Chúng ta làm được rồi! Những sinh linh bé nhỏ! Chúng ta sắp có con rồi!"

Lúc đầu, tôi không thể tin vào những gì mình vừa nghe, nhưng khi những lời đó dần thấm vào đại não, một niềm vui sướng tột độ dâng trào trong lòng. Tôi hạnh phúc đến mức đánh rơi cả xô nước đang cầm trên tay. Nước văng tung tóe làm ướt sũng bộ quần áo yêu thích, nhưng lúc này tôi chẳng còn tâm trí nào để bận tâm nữa. Tôi giơ hai tay lên trời, reo hò trong niềm hân hoan.

"Tuyệt quá! Tuyệt vời quá! Thật không thể tin được là chúng ta lại có con sớm thế này! Đây đúng là tin vui nhất đời anh!"

Tôi vừa xoa đầu vừa vỗ vai cô ấy... nhưng thú thực, tôi hơi ngần ngại khi chạm vào bụng Alna, nên đành kìm lại.

Francoise đã mang thai, nó nheo mắt đầy hạnh phúc khi nũng nịu đòi tôi vỗ về thêm. Chúng tôi đang ở trong chuồng gia súc lót đầy rơm, và tôi không thể ngừng vuốt ve, khen ngợi Francoise. Thấy vậy, Francis có vẻ hơi bồn chồn, nó cứ đi lại quanh chúng tôi. Tôi không nhịn được mà bật cười.

"Gì mà mặt mày bí xị thế kia? Ghen tị hả Francis? Lại đây nào! Ai cũng có phần hết!"

Francis trông có vẻ hơi hờn dỗi trước lời trêu chọc của tôi, nhưng nó vẫn khẽ gật đầu rồi tiến lại gần để được xoa đầu. Loài Baar là những sinh vật cực kỳ thông minh, chúng hiểu thấu ngôn ngữ của con người. Khi bạn bảo chúng đừng làm gì, chúng sẽ nghe lời, và khi bạn ra lệnh "lại đây" hay "đứng đó", chúng sẽ thực hiện chính xác.

Theo lời Alna, trí thông minh chính là công cụ sinh tồn mạnh mẽ nhất của chúng. Loài Baar đã học cách tồn tại giữa thiên nhiên hoang dã bằng cách dùng bộ não để tránh né hiểm nguy và đánh lừa những kẻ săn mồi.

Khi tôi hỏi Alna tại sao một loài vật thông minh như vậy lại cam chịu làm gia súc, cô ấy bảo đó là sự lựa chọn của chúng. Khi nhận ra rằng con người mạnh mẽ sẽ bảo vệ, chăm sóc và cho chúng một chốn dung thân, chúng sẵn lòng dâng hiến bản thân để làm vật nuôi.

Một con Baar hoang dã khi được đưa về chỉ mất khoảng một tuần để học ngôn ngữ loài người. Chúng thông minh đến nhường đó đấy. Nhưng khi tôi đang mải mê tận hưởng khoảnh khắc hạnh phúc bên Francoise và Francis, tôi nhận thấy Alna đứng cạnh bên với vẻ mặt đầy lo âu.

"Có chuyện này em nên nói cho anh biết, Dias," cô ấy cảnh báo. "Việc cừu Baar mang thai không hoàn toàn chỉ là tin vui đâu. Trí thông minh của chúng là con dao hai lưỡi—nó khiến chúng dễ bị tổn thương bởi nỗi sợ hãi và những cơn sang chấn tâm lý. Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng khi chúng mang thai, một con Baar hoàn toàn có thể chết vì kinh sợ."

Alna tiếp tục: "Vì vậy, những con Baar mang thai thường có xu hướng quây quần bên kẻ mạnh nhất trong đàn, mà trong trường hợp này, chính là anh. Nhiệm vụ của anh là phải khiến chúng cảm thấy an toàn và được bảo vệ tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là... anh phải ở bên chúng mọi lúc, ngay cả khi ngủ."

Cô ấy trông không vui lắm khi phải giải thích điều này, có lẽ vì cảm thấy có lỗi với tôi. Qua lời Alna, tôi hiểu rằng mình sẽ phải chuyển ra ngủ ngoài chuồng gia súc một thời gian. Nhưng tôi chẳng bận lòng chút nào, và tôi cũng không muốn cô ấy phải suy nghĩ. Tôi sẵn lòng ngủ trong chuồng nếu điều đó tốt cho hai con Baar và những đứa con tương lai của chúng. Khi tôi nói vậy, Alna lại lắc đầu.

"Không, không phải ý đó đâu," cô ấy nói. "Ý em là chúng ta sẽ đưa Francis và Francoise vào sống chung trong lều Yurt. Việc chia tách một cặp đôi vừa mới kết đôi là không nên, nhưng một số đàn ông Onikin cực kỳ ghét việc này, và chuyện mang thai thường gây ra nhiều tranh cãi giữa các cặp vợ chồng. Khi đưa cừu Baar vào lều, chỗ ở sẽ bị bẩn, rồi còn mùi hôi nữa, và một số người cảm thấy không thoải mái với cái cách mà lũ cừu nhìn họ."

"Ồ, ra là vậy," tôi bật cười sảng khoái. "Anh không phiền đâu, sống chung cho vui. Francis và Francoise chẳng phải là gia đình sao? Còn chuyện bẩn hay hôi hám ư, hồi chiến tranh anh đã từng sống trong những dãy trại lính nhếch nhác, bốc mùi, chen chúc với hàng đống đồng đội rồi. Ở cạnh Francis và Francoise thế này còn sướng chán, cứ như thiên đường vậy!"

"Ha! Thật sao? Vậy thì tốt quá! Anh không chỉ nam tính mà còn rất tốt bụng nữa! Em đúng là vớ được anh chồng tuyệt vời nhất trần đời!"

Alna nở nụ cười rạng rỡ. Francis và Francoise thấy vậy cũng bắt đầu kêu be be. Với những người không rành, tiếng kêu của loài Baar nghe cái nào cũng giống cái nào, nhưng thực ra có những biến tấu rất nhỏ. Tùy vào cao độ mà chúng biểu đạt những ý nghĩa khác nhau. Ít nhất là Alna đã nói với tôi như vậy.

Tôi vẫn chưa thể phân biệt được chúng đang nói gì, nhưng Alna thì hiểu tuốt. Tôi từng thấy cô ấy trò chuyện với Francoise ngoài thảo nguyên. Ngay cả bây giờ, có vẻ như Francis và Francoise đang cố nói gì đó khiến mặt Alna đỏ bừng lên như gấc chín.

"Hai cái đứa này nói linh tinh gì thế hả?!" cô ấy kêu lên, người vặn vẹo xấu hổ. "Dias và tôi vẫn chưa... chưa làm mấy chuyện đó! Francis! Đừng có mà nói năng bậy bạ!"

Hai con cừu vẫn tiếp tục kêu đáp lại.

"Dành thời gian để xây dựng tình cảm sâu đậm thì có gì sai chứ?!" Alna vặn lại. "Với lại, Dias đã bảo là đừng lo rồi mà! Nghe này! Đó là chuyện riêng của chúng tôi! Để yên đi!"

Lũ cừu vẫn không chịu thôi, tiếng be be cứ thế tiếp diễn.

a7b820d8-4685-432a-bf37-545d88d0118d.jpg

Cảm nhận được cuộc hội thoại đang đi vào "vùng nhạy cảm", tôi lẳng lặng chuồn khỏi chuồng. Tôi biết mình nên ở bên cạnh Francoise, nhưng thấy nó đang mải "tám chuyện" hăng say thế kia thì chắc không sao đâu. Hơn nữa, tôi còn phải đi lấy lại xô nước vừa làm đổ, và cả nước cho máng uống của chúng nữa.

Tôi không có chạy trốn đâu nhé. Chỉ là sắp đến giờ ăn sáng rồi, tôi phải lo chuyện nước nôi cho xong xuôi thôi. Đúng, là vậy đấy.

Sau khi lo xong phần nước giếng, tôi chuẩn bị một chiếc giường cho Francis và Francoise ngay trong lều Yurt. Nói cho oai vậy thôi chứ thực ra tôi lấy một chiếc bồn lớn từ kho ra và rải đầy rơm vào đó. Sau khi đã ổn định chỗ ở cho hai "vị khách bốn chân", tôi và Alna cùng ngồi xuống ăn bữa sáng muộn. Tay nghề nấu nướng của Alna lúc nào cũng tuyệt đỉnh, và hôm nay cũng không ngoại lệ. Tôi đánh chén ngon lành, dọn dẹp xong xuôi rồi chuẩn bị cho công việc trong ngày.

Vấn đề dân số vẫn chưa có lời giải, còn làng Onikin thì đang bận tối mắt tối mũi với đống da Ghee đen và nguyên liệu rồng mà tôi mang về, nên Moll đã nhờ tôi tạm ngưng săn bắn một thời gian. Vả lại, giờ phải trông chừng Francis và Francoise suốt ngày, đi săn cũng chẳng an toàn.

Vậy là chỉ còn việc giúp Alna làm việc nhà, hoặc dành thêm thời gian luyện tập dựng lều Yurt. Hoặc có lẽ là cả hai. Đang ngồi suy tính trong lều, tôi bỗng thấy chiếc sừng trên đầu Alna chuyển từ màu xanh lam sang xanh lá. Cô ấy khựng lại, nhắm mắt tập trung, còn tôi thì nghiêng đầu thắc mắc.

Màu đó nghĩa là gì nhỉ?

"Em có giăng ma pháp quanh vùng thảo nguyên này, và có thứ gì đó vừa chạm vào nó," Alna nói. "Có một nhóm người đang tiến lại đây... từ phía Đông. Hình như là một nhóm người cưỡi ngựa. Có khoảng mười người."

Tôi với lấy chiếc rìu bên giường, nắm chặt trong tay.

Thì ra xanh lá là tín hiệu cảnh báo sao? Ma pháp của người Onikin đúng là tiện lợi thật.

Nhưng lúc này, điều quan trọng hơn là phải đối phó với nhóm người đang tới. Kinh đô nằm ở phía Đông, nhưng tôi chẳng nghĩ ra được ai lại lặn lội đến đây thăm mình vào lúc này. Nếu là một nhóm cướp thì rắc rối to.

"Alna, anh sẽ ra ngoài kiểm tra," tôi dặn. "Em hãy dùng ma pháp để ẩn giấu bản thân và lũ cừu đi. Nếu được, hãy giấu luôn cả căn lều này và cái giếng nữa. Có thể là ai đó đến tìm anh, nhưng cứ cẩn thận là hơn. À, hãy để lại căn lều tập luyện ở ngoài—nếu họ đến tìm anh thật, chúng ta sẽ tiếp khách ở đó."

Tôi vừa dứt lời, Francis và Francoise đã lạch bạch chạy lại với vẻ mặt lo lắng.

"Anh chỉ đi một lát thôi, mấy nhóc," tôi trấn an chúng. "Thôi nào, đừng có làm vẻ mặt đáng sợ thế chứ. Anh sẽ về ngay thôi, anh không sao đâu mà! Chỉ có mười người thôi, làm sao so được với rồng, đúng không?"

Alna có vẻ yên tâm để tôi tự giải quyết, nhưng hai con cừu thì cứ ủ rũ, lo lắng không yên. Có vẻ như lời nói suông là chưa đủ. Thôi thì tôi cứ phải ra đó xem sao đã, rồi sẽ chạy về nhanh nhất có thể.

Nhưng câu hỏi là: Đám người đó rốt cuộc là ai?

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!