Lời Mở Đầu
Mẹ tôi thường hay dặn: "Hãy sống sao cho có ích với đồng bào mình."
Còn cha tôi lại bảo: "Hãy là một nam nhi biết đứng ra bảo vệ kẻ yếu."
Năm lên mười, tôi mất cả cha lẫn mẹ trong một trận đại dịch. Suốt hai mươi lăm năm kể từ ngày đó, tôi đã dốc hết sức mình để sống sao cho xứng với lời răn dạy của người quá cố.
Thuở thiếu thời, tôi cùng những đứa trẻ mồ côi khác tụ họp lại thành một nhóm. Chúng tôi rau cháo nuôi nhau qua ngày bằng đủ mọi công việc, từ quét dọn phố xá, phụ việc đồng áng để đổi lấy mẩu bánh mì, cho đến cả việc đi săn quái vật mỗi khi chúng xuất hiện. Chúng tôi cứ thế nương tựa vào nhau, chắt chiu từng đồng tiền kiếm được để duy trì sự sống.
Năm tháng cứ thế trôi đi. Đến năm tôi mười lăm tuổi, chiến tranh nổ ra giữa nước láng giềng và quốc gia tôi. Quân ta bại trận liên miên, chiến tuyến cứ thế lùi dần cho đến khi kẻ thù tràn vào tận thành phố nơi tôi sinh sống... Chúng bắt đầu cướp bóc, giày xéo mọi thứ ngay trước mắt tôi.
Không thể khoanh tay đứng nhìn những tội ác đó diễn ra, và cũng để thực hiện lời hứa với cha mẹ, tôi quyết định đứng lên chiến đấu bảo vệ thành phố. Tôi nhập ngũ, rồi cứ thế dấn thân vào khói lửa suốt hai mươi năm ròng rã.
Mùa đông năm tôi ba mươi lăm tuổi, các cuộc đàm phán cuối cùng cũng đạt được thỏa thuận có lợi, chiến tranh chính thức chấm dứt. Và rồi, thật bất ngờ, chẳng hiểu vì lý do gì mà người ta bắt đầu tung hô tôi như một vị anh hùng cứu quốc.
Hóa ra, bản thân tôi lại có thiên bẩm về chiến đấu mà chính mình cũng không hề hay biết. Thành tích trên chiến trường của tôi vang dội hơn bất kỳ người lính nào khác trên khắp đất nước. Thậm chí, việc đất nước giành được thế chủ động trên bàn đàm phán cũng là nhờ những nỗ lực của tôi.
Kể từ đó, tôi rơi vào những chuỗi ngày đầy lúng túng khi đi đâu cũng nghe thấy những lời tán dương không ngớt. Từ những đồng đội từng sát cánh chiến đấu, những hiệp sĩ dẫn dắt quân đội, cho đến những người dân thành phố vốn trước đây luôn khinh khi lũ trẻ mồ côi chúng tôi, và cả những vị chức cao trọng quyền – tất cả đều dành cho tôi những lời khen có cánh.
Sự tung hô ấy kéo dài đến mức cuối cùng, ngay cả Đức Vua – người quyền uy nhất đất nước – cũng đích thân khen ngợi tôi. Bằng những ngôn từ hoa mỹ và khó hiểu, ngài nói những lời tốt đẹp rồi tuyên bố ban thưởng cho tôi một lãnh địa.
Một kẻ thất học như tôi thực sự chẳng hiểu "lãnh địa" là cái gì. Vị quan đứng cạnh ngài đã ân cần giải thích rằng: về cơ bản, tôi sẽ đến sống trên mảnh đất đó với tư cách là một lãnh chúa, có nhiệm vụ bảo vệ dân chúng, thu thuế của họ rồi nộp lại cho nhà vua.
Và dường như, một khi đã được ban tước, người ta kỳ vọng tôi phải khởi hành ngay lập tức. Tôi bị đẩy vào xe ngựa một cách khá cưỡng ép. Chẳng kịp chuẩn bị hành trang gì, tôi cứ thế rời khỏi kinh đô.
Suốt một tháng ròng rã hành trình, tôi bị giám sát dưới con mắt coi thường của những vị quan đi cùng. Tôi không được phép rời khỏi xe ngựa, trừ khi đi vệ sinh hoặc ngủ. Những tuần lễ ngột ngạt ấy đột ngột kết thúc vào một buổi chiều, khi họ thông báo rằng chúng tôi đã đến nơi.
Giữa những tiếng cằn nhằn và than vãn của đám quan lại, tôi bị đẩy khỏi xe ngựa, đặt những bước chân đầu tiên lên lãnh địa mới của mình. Khi tôi đứng giữa cái nơi được gọi là "trung tâm lãnh địa", một viên quan chỉ tay tuyên bố rằng: tất cả mọi thứ trong tầm mắt đều thuộc về tôi.
Hắn ta chỉ tay vào những trảng cỏ xanh mướt trước mặt, rồi lại huơ tay ra xung quanh... cũng vẫn là cỏ. Bất kể tôi nhìn hướng nào, trước mắt cũng chỉ là những đồng cỏ bao la, những đồng cỏ hun hút, và những đồng cỏ rộng mênh mông bát ngát. Đó chính là lãnh địa của tôi.
Cảnh tượng này khác xa với những gì tôi tưởng tượng khi nghe tin mình được ban đất. Nó khác đến mức tôi chỉ biết đứng nghệt mặt ra mà nhìn. Viên quan nhìn tôi với một nụ cười đầy ác ý rồi lên tiếng:
"Ta phải nói rằng, cái thái ấp này thực sự rất hợp với một tên mồ côi vừa mới bước chân vào hàng quý tộc đấy. Cố mà làm việc cho tốt nhé. Vùng thảo nguyên này tên là Nezrose. Tên ngươi là Dias phải không? Vậy thì kể từ hôm nay, hãy gọi mình là Dias Nezrose."
Nói đoạn, hắn nhảy tót lên xe ngựa và rời đi, bỏ mặc tôi đứng trơ trọi một mình... giữa thảo nguyên bát ngát dường như càng lúc càng rộng ra khi tôi nhìn lâu hơn.
Chẳng thấy bóng dáng một "thần dân" nào như lời người ta nói. Tệ hơn nữa, cũng chẳng có lấy một mái nhà để ở. Đến khi bụng dạ bắt đầu réo liên hồi, tôi mới nhận ra mình còn phải lo cả chuyện ăn uống nữa. Nhưng nhìn quanh quất, chẳng thấy cái gì có thể bỏ vào mồm được.
Thứ duy nhất tôi mang theo bên mình là cây rìu chiến hai lưỡi yêu quý, bộ đồ đang mặc trên người, đôi ủng sờn cũ và bộ giáp đã mòn vẹt vì chinh chiến.
Tôi chẳng có lấy một mẩu bánh dính túi.
Và đó là cách cuộc đời tôi tại lãnh địa thảo nguyên bất tận này bắt đầu: không dân chúng, không nhà cửa, và cũng chẳng có đồ ăn.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
