Chương 03: Cơn ác mộng đã mua bắt đầu chuyển động
3. Cơn ác mộng đã mua bắt đầu chuyển động
Hơn chín giờ rưỡi tối, quán đột nhiên đông nghịt. Tọa lạc tại tầng mười ba tòa nhà Hiyoshi-cho, nơi có thể nhìn xuống tuyến đường sắt Seibu Ikebukuro bên dưới, cái lounge bar chỉ toàn ghế quầy này đón tiếp những vị khách mà ai nấy đều nồng nặc hơi men.
“Hạt khô và rau củ que. Thêm một đĩa thịt nguội và phô mai tổng hợp nữa.”
Mẹ hắn vén tấm rèm noren lên một chút, ghé mặt vào cái gọi là nhà bếp nhưng thực chất chỉ là một khu nấu nướng tạm bợ rồi gọi món. Khi đứng tại quầy của ‘Lounge Bar Jewelry’, mẹ hắn trát phấn dày cộp lấp kín lỗ chân lông, biến thành một người đàn bà không rõ tuổi tác. Dù chẳng thể toát ra cái khí chất thanh xuân, nhưng trông bà ta vẫn đẹp hơn gấp mấy lần so với lúc ngồi sơn móng tay trong căn nhà bừa bộn như bãi rác. Hắn nhanh tay mở tủ lạnh, lấy thịt nguội, phô mai và ngò tây, bày biện lên một chiếc đĩa sành điệu. Trên cánh cửa tủ lạnh có dán một bức minh họa vừa mới vẽ xong. Đó là bức tranh mô tả cảnh tượng chấn động khi hắn bổ toạc đầu một kẻ khác trong mơ.
“Bức tranh tởm lợm thật đấy. Tác phẩm mới à?”
Cô ả làm thêm ghé mặt qua khe hở của tấm rèm noren mà hỏi.
“Phải. Tuyệt đúng không. Nhìn cách máu văng tung tóe này.”
Người phụ nữ liếc nhìn bức minh họa bằng ánh mắt lạnh tanh, rồi giật phắt lấy đĩa thịt nguội và phô mai, biến mất sau tấm rèm. Giọng cô ta cao lên nửa tông khi cất tiếng: “Xin lỗi đã để quý khách đợi lâu.” Hắn lấy túi hạt khô, chia đều ra các đĩa đã xếp sẵn. Sau khi tráo đổi để lượng hạt điều và hạnh nhân cân bằng nhau, hắn đặt chúng lên khay và bưng ra quầy.
“Dô. Jun-kun, khỏe không?”
Lão già khách quen mỉm cười với vẻ mặt như thể cái gì cũng biết. Một lão già sống trong thế giới tự mãn của riêng mình, ra cái vẻ thấu hiểu nỗi trăn trở của thanh niên có tương lai hay đại loại thế.
“Nhờ phúc của bác, cháu vẫn khỏe ạ.”
Hắn chỉ cười bằng miệng rồi đặt đĩa hạt xuống.
“Dạo này thế nào rồi, chuyện vẽ vời ấy. Có đang vẽ gì không?”
Lần nào lão cũng lặp lại đúng một câu hỏi.
“Trong tủ lạnh nhà bếp có dán tác phẩm mới đấy ạ. Một bức với cảnh máu me văng tung tóe kinh khủng lắm.”
Cô ả làm thêm thì thầm vào tai lão già.
“Vậy sao, tốt quá nhỉ, ừm. Dù là gì thì thể hiện bản thân cũng là điều tốt. Phải không Mama?”
Mẹ hắn đang mải chuyện trò với khách khác, chỉ quay mỗi cái mặt sang mỉm cười với lão già. Bà ta nghiêng đầu, nâng ly lên, tranh thủ vòi vĩnh thêm một ly nữa. Với cái điệu bộ kiểu như “chẳng thể nào thắng nổi Mama”, lão già ngả người ra sau ghế, ra chiều sẽ bao chầu này.
“Ôi, cảm ơn anh nhé… Jun?”
Gọi tên hắn nghĩa là bảo hắn đi pha đồ uống tiếp đi.
Hắn lui vào trong bếp. Theo thiết lập của quán, món yêu thích của Mama là một loại cocktail tên ‘Ball Park’, pha từ rượu mùi trái cây và Jack Daniel’s với soda. Tuy nhiên, thứ thực sự được pha chế chỉ là ‘hàng giả’ làm từ trà lạnh pha với soda. Gan của mẹ hắn đã hỏng rồi, nên bà ta phải hạn chế uống rượu mạnh khi tiếp khách.
Trên hóa đơn của khách sẽ được cộng thêm một ngàn hai trăm yên cho ly Ball Park, nhưng giá vốn của cốt trà, soda và lát chanh chỉ tốn vài chục yên. Hắn rót trà vào để tạo ra màu sắc hoàn hảo, rồi pha thêm soda và khuấy nhẹ. Để tiếng đá va vào nhau nghe thật rõ, hắn khuấy trước khi đổ soda vào.
“Anh Jun, nghe này. Trưa hôm qua, có một kẻ kỳ lạ đã đến căn hộ của em đấy.”
Cô ả làm thêm vừa nói vừa chờ ly cocktail giả hoàn thành trong bếp.
Lương theo giờ của cô ta là một ngàn năm trăm yên. Một lính mới vừa vào làm. Gương mặt cũng gọi là ưa nhìn nhưng lại thiếu đi sự thu hút, toát ra cái khí chất hợp với làm nghiên cứu hơn là buôn bán chiều khách; được cái không biết sợ là gì, nhưng cũng chẳng có chút duyên dáng nào. Nếu được chọn thì hắn chẳng muốn thuê loại người này, nhưng những cô em được khách yêu thích thường chỉ làm khoảng ba tháng là nghỉ. Mấy đứa đó một khi đã quen với nghề chiều khách thì sẽ chuyển sang những quán kiếm được nhiều tiền hơn.
“Kẻ kỳ lạ là kẻ thế nào?”
Nghe hắn hỏi, cô ta đưa mắt nhìn lên trần nhà bếp rồi đáp:
“...Người của tổ chức tôn giáo chăng?”
Cô ta nghiêng đầu thắc mắc.
“Nếu vậy thì cũng chẳng có gì lạ. Công việc của đám đó là đi lôi kéo tín đồ mà.”
“Nhưng mà, vẫn kỳ lạ lắm.”
“Ở chỗ nào?”
Hắn đưa ly cocktail giả cho cô ta, rồi cô ta bưng nó ra quầy.
“Quý khách mời Mama một ly đây ạ. Món Ball Park yêu thích nhất của bà!”
Cô ta đang nói y hệt những lời được dạy.
“Ball Park uống ngon tuyệt nhỉ.”
Việc khéo léo gợi ý rằng ‘em cũng muốn uống’ là một kỹ năng của nhân viên làm thêm. Trong trường hợp của cô ả này, cách đong đưa quá cứng nhắc, giọng điệu thì sặc mùi giải thích, nên hiếm khi khiến khách chịu bỏ tiền ra mời. Nhưng đêm nay, chiến thuật ‘thì thầm vào tai’ có vẻ đã phát huy tác dụng, lão già kia đã cắn câu.
“Bắt một ông già sống bằng lương hưu phải bao rượu, cái quán này dạy dỗ nhân viên kiểu gì thế hả. Phải không Mama?”
Vừa nghe giọng nói có vẻ cao hứng của lão già, hắn vừa ngắm nhìn tác phẩm dán trên tủ lạnh.
Một tác phẩm tốt. Có thể gọi là xuất sắc. Tờ giấy vẽ được tô kín bằng phấn màu đỏ. Nạn nhân và cây rìu được vẽ bằng màu đen. Hắn chỉ dùng đỏ và đen. Bởi những màu sắc khác chẳng thể kích thích trí tưởng tượng. Lưỡi rìu cắm phập vào đỉnh đầu, những tia máu khủng khiếp bắn ra phủ kín khuôn mặt nạn nhân. Thứ duy nhất có thể nhận diện được là nhãn cầu lồi ra ngoài, và cái miệng méo xệch đi vì kinh hãi. Vẽ rất đạt. Cái khoảnh khắc đó, cái chấn động truyền đến bàn tay đang nắm chặt cán rìu, và một thứ gì đó nữa. Nhìn vào bức tranh là nhớ lại tất cả. Cái cảm giác khi sự sống sụp đổ và tan rã. Sự hưng phấn tột độ khi biết rằng chính mình là kẻ đã gây ra điều đó.
“...Muốn thử giết người thật quá đi...”
Hắn lầm bầm trong miệng, ngón tay miết lên vệt phấn đỏ.
“Thật ạ? Cảm ơn quý khách. Vậy, cho em xin một ly Bloody Mary được không ạ?”
Tiếng nói vọng lại từ phía quầy, những vị khách khác cười rộ lên, bảo rằng tốt quá rồi nhé.
Khi cô ả làm thêm thò mặt qua khe hở tấm rèm, hắn phải lập tức quay lưng lại để che đi phần đũng quần. Hắn đã cảm thấy niềm khoái lạc đê mê trước bức tranh của chính mình đến mức con cặc dựng đứng cả lên.
“Có đơn gọi một ly Bloody Mary ạ.”
Bloody Mary là loại cocktail được pha chế bằng cách hòa rượu vodka với nước ép cà chua. Tùy theo khẩu vị, người ta có thể gia giảm thêm muối, sốt Tabasco hay nước cốt chanh để điều chỉnh hương vị.
“Để em tự làm cho.”
Cô ả tự tiện mở tủ lạnh, lôi ra hộp nước ép cà chua.
Cocktail cho khách thì pha tại quầy, nhưng phần của nhân viên uống thì phải chuẩn bị trong bếp hết mức có thể. Vừa tạo ra những tiếng lách cách khi khuấy, cô ả vừa trút một lượng lớn muối và Tabasco vào ly nước cà chua.
“Chuyện ban nãy ấy mà, cái việc đi đến nhà một người hoàn toàn xa lạ, chẳng phải kỳ quặc lắm sao?”
“Vậy à? Cũng có mấy vụ bán hàng tận nhà đấy thôi.”
Cô ả nâng chiếc ly tumbler chứa thứ chất lỏng sền sệt đỏ lòm lên, bĩu môi.
“Bán hàng tận nhà thì em hiểu chứ? Vì công ty họ nắm được nhân viên đang đi khu vực nào mà. Với lại, đa phần là đàn ông hoặc người trẻ làm. Đằng này, người của bên tôn giáo toàn là mấy bà cụ nhỏ thó, họ bảo chỉ cần mình nói có hứng thú là họ sẽ đến thăm bất cứ lúc nào.”
“Vì là tôn giáo chứ sao?”
“Họ không thấy nguy hiểm à? Nghĩa là ngoài bản thân người đó ra, không ai biết họ đã đến thăm ai, đúng không? Mà, chắc cũng chẳng ai đi tấn công một bà cụ đâu, nhưng chỉ vì nghe người ta nói có hứng thú mà lại lò dò đến nhà người lạ, em thấy quá nguy hiểm. Bởi vì, đâu có ai biết được đâu. Nhỡ có chuyện gì xảy ra với người đó.”
Nhìn hắn bằng đôi mắt có vẻ lanh lợi, cô ả bước ra khỏi bếp.
“Em xin phép uống thật đây nha! Bloody Mary đâyyyy. Cảm ơn vì bữa ăn!”
Tiếng “Dô!” vang lên, theo sau là âm thanh ly thủy tinh va vào nhau, tiếng vỗ tay, và tiếng cười của má mì vọng lại.
“Jun, khoai tây chiên và pizza mật ong nhé.”
Chẳng buồn đáp lời, hắn nhìn chằm chằm vào vệt màu đỏ của phấn tiên dính trên ngón tay lúc hắn miết qua bức tranh minh họa.
*──Nghĩa là ngoài bản thân người đó ra, không ai biết họ đã đến thăm ai, đúng không?──*
Ngoài bản thân ra thì không ai hay biết. Họ đã không phòng bị mà bước vào nhà của ai, không một ai hay biết.
*──Bởi vì, đâu có ai biết được đâu. Nhỡ có chuyện gì xảy ra với người đó──*
Kẻ đó đã biến mất ở đâu. Tại sao lại biến mất. Ra sao rồi. Chẳng ai hay.
Bức tranh ác mộng đã vẽ rất đạt. Nhưng đó cũng chỉ là tranh. Dù có ngắm nhìn bao nhiêu lần, có hồi tưởng lại bao nhiêu lần, nó cũng không phải đồ thật. Thứ duy nhất hắn còn nhớ là khoái cảm của khoảnh khắc đó, và cũng giống như món Ball Park hay Bloody Mary chế biến trong căn bếp này, đó chỉ là thứ khoái lạc giả tạo.
Mặc kệ khoai tây chưa chiên, hắn đứng trân trân nhìn vào tủ lạnh.
***
Dù đã giảm bớt giờ làm thêm để lấy tín chỉ tốt nghiệp, Akane vẫn tiếp tục làm việc tại cửa hàng tiện lợi ngay cạnh ký túc xá. Vì cửa hàng này chấp nhận phiếu ăn của ký túc xá nên thao tác thanh toán cho sinh viên đại học tốn thêm một công đoạn. Về mặt vị trí, nơi đây có nhiều sinh viên làm thêm, cửa hàng trưởng lúc nào cũng đau đầu về vấn đề xếp ca, nên ông ấy rất quý những nhân viên chịu làm việc lâu dài. Akane tuy hậu đậu nhưng về cơ bản rất nghiêm túc, lại luôn đi làm đúng giờ, nên cô được ông ấy khẩn khoản nhờ tiếp tục làm cho đến khi tốt nghiệp.
Hôm nay cũng vậy, khi cô từ Viện Nghiên cứu Khoa học Giấc mơ đến thẳng cửa hàng tiện lợi để làm việc, cửa hàng trưởng bảo:
“Hồi trưa có bạn cháu đến đấy.”
Vừa quẹt mã vạch thẻ ID để đổi ca trực máy tính tiền, Akane vừa hỏi.
“Bạn cháu là ai ạ?”
“Chú không hỏi tên.”
Cửa hàng trưởng đáp.
“Cô bé đó hỏi hôm nay Shirozaki-san có đến không, chú bảo là chiều tối mới có ca, thế là cô bé chỉ mua phong kẹo cao su rồi về.”
“Dáng vẻ bạn ấy thế nào ạ?”
Cô không nhớ mình có người bạn nào lại gọi mình là “Shirozaki-san” thay vì “Akane”.
“Tóc để tự nhiên, cảm giác giản dị, có đeo kính.”
“A, vậy là Kasumi rồi. Là Kasumi đấy ạ. Cô bạn ở phòng bên cạnh cháu trong ký túc xá.”
Vui mừng khôn xiết, cô gọi tên bạn đến hai lần. Chắc vì đang ở chỗ làm của cô nên nhỏ mới giữ ý gọi là Shirozaki-san. Cô bạn thân Kasumi đeo cặp kính giản dị, mái tóc đen để nguyên bản, và bữa trưa thì chẳng ăn gì ngoài mì soba cà ri. Nhỏ có nguyện vọng trở thành diễn viên lồng tiếng, nghe đâu đã quyết định sau khi tốt nghiệp sẽ vừa đi làm vừa tiếp tục theo học ở lò đào tạo. Gần đây nhỏ bị sốc vì sự ra đi của một người quen, nên Akane đã rất lo lắng không biết liệu nhỏ có thể quay lại trường vào học kỳ mùa thu hay không.
“Vậy sao... Cậu ấy quay lại rồi...”
Akane suýt nữa thì khóc, nhưng cửa hàng trưởng chẳng bận tâm, ông bàn giao xong quầy thu ngân và đưa cho cô chiếc còi báo động phòng chống tội phạm dạng dây đeo.
“Vậy nhờ cháu nhé, Shirozaki-san. Cậu Tahara ca muộn bảo có việc gấp nên xin nghỉ, chú chợp mắt một chút rồi sẽ quay lại.”
“Vậy ạ? Cửa hàng trưởng vất vả quá.”
“Chứ còn gì nữa... Đến giờ thì cháu gọi chú trước khi hết ca một chút nhé? Chú hoặc nhà chú sẽ ra thay.”
“Cháu hiểu rồi ạ.”
Đang nói chuyện thì cửa mở, một nhân viên văn phòng đi làm về bước vào.
“Kính chào quý khách, chào buổi tối ạ.”
Chỉ để lại giọng nói niềm nở, cửa hàng trưởng biến mất vào kho phía sau.
Canh lúc khách vãn ở quầy thu ngân, cô kiểm tra lịch nhập hàng của dịch vụ chuyển phát nhanh, “Giấc mơ” đặt mua trên Avocado dự kiến sẽ được giao vào sáng mai. Nhắc mới nhớ, hình như cũng đã có email báo hàng đã xuất kho. Lịch giao hàng buổi sáng của cửa hàng này cố định vào khung mười một giờ, thường thì xe tải sẽ đến vào khoảng mười một giờ bốn mươi lăm phút. Nếu trưa mai cô ghé qua nhận kiện hàng rồi mang đến trường, thì chiều mai có thể cùng mở gói hàng với Giáo sư Freud và anh Wota-mori.
“Hơi mong chờ ghê.”
Đang đứng cười tủm tỉm một mình thì khách đến thanh toán, cô vội chỉnh đốn tư thế.
“Xin cảm ơn quý khách. Quý khách có muốn hâm nóng cơm hộp không ạ?”
Lần này vừa cười tươi rói, Akane vừa tập trung vào công việc.
Hơn mười một giờ đêm. Akane kết thúc ca làm và rời khỏi cửa hàng tiện lợi để về ký túc xá. Trên bầu trời đêm cô ngước nhìn lên, vài ngôi sao đang lấp lánh. Ban ngày trời nắng nóng đến toát mồ hôi, nhưng đến giờ này thì đã se lạnh. Gió thổi lạnh lẽo, và chẳng hiểu sao, bóng đêm dường như đang đặc quánh lại.
Cửa hàng tiện lợi và ký túc xá nằm gần ngay trước mắt, nhưng vì cổng chính ký túc xá sẽ đóng sau mười giờ đêm, nên tôi buộc phải đi vòng quanh tòa nhà và vào từ phòng quản lý ở phía sau.
Phía sau ký túc xá, ngăn cách bởi một làn đường xe chạy, là công viên với những bụi cây tạp vươn lên sừng sững. Một lối đi dạo nhỏ hẹp chạy xuyên qua rừng cây, dẫn đến những bậc thang gỗ được ghép từ những thân cây tròn nối tiếp lên ngọn đồi trong công viên. Đó là một công viên mà ngay cả ban ngày cũng toát lên vẻ âm u, ẩm thấp.
Con hẻm sau này chỉ có ánh đèn thường trực hắt ra từ phòng quản lý và duy nhất một ngọn đèn đường ở phía công viên. Chỉ cần đi vào một chút từ trục đường chính, nơi đây đã tĩnh lặng và tối tăm như thể một thế giới khác.
Tôi bước đi, tiếng chân nghe *lộp cộp* đều đều trên vỉa hè. Nhìn thấy một lon cà phê nhãn hiệu riêng của cửa hàng tiện lợi bị đặt trên bụi cây cảnh, tôi tiện tay thu hồi nó.
Chắc hẳn ai đó đã mua ở cửa hàng, vừa đi vừa uống, rồi khi cạn thì vứt toẹt lên bụi cây. Vừa bực bội vì thói vô ý thức đó, tôi vừa dùng ngón cái và ngón trỏ nhón lấy cái lon bước đi, thì bất chợt có thứ gì đó màu đen lướt qua chân tôi, lao xuống lòng đường rồi chạy biến.
"Híc."
Tôi khẽ thốt lên một tiếng, cái bóng đen kia liền dừng lại giữa lòng đường, quay đầu lại. Đôi mắt nó lóe lên ánh vàng kim. Nhìn cái dáng hình uyển chuyển ấy, tôi nhận ra đó là một con mèo. Con mèo trừng mắt nhìn tôi trong khoảnh khắc, rồi biến mất vào bụi rậm trong công viên.
Trong bóng tối dày đặc thế này, những thứ quen thuộc cũng trở nên quỷ dị. Cây cối rung lên *xào xạc*, khiến tôi cứ ngỡ như có ai đó đang đứng trên lối đi dạo. Một cái bóng đen đang rình rập tôi từ chỗ khuất. Nó trông vừa giống một kẻ khả nghi, lại vừa giống như một hồn ma bóng quế. Tôi vội xua tan những hoang tưởng ấy và rảo bước nhanh hơn.
Đường đêm có chút gì đó giống với những giấc mơ. Vì không thể nhìn thấy toàn bộ hình dáng của sự vật, nên chỉ một con mèo, một cái cây hay một cơn gió cũng khiến người ta cảm thấy chúng là những thứ kinh hoàng và ghê tởm đến tột độ.
Về đến phòng quản lý, tôi bấm chuông và được mở cửa. Khi khép cánh cửa lại, tôi nhìn qua khe hở ra ngoài đường một lần nữa, nhưng chẳng thấy bóng dáng kẻ khả nghi hay con mèo nào ở đâu cả.
Sau khi điền vào giấy tờ vi phạm giờ giới nghiêm tại phòng quản lý, tôi ngước nhìn bảng hiển thị phòng ở trên tường. Đúng như dự đoán, đèn báo phòng của Kasumi đang sáng. Tôi bất giác nắm chặt tay. Vứt cái lon rỗng vào thùng rác ký túc xá, xịt dung dịch sát khuẩn lên tay, tôi bước vào thang máy.
Tôi muốn nhìn thấy mặt Kasumi ngay lập tức, nhưng sợ cậu ấy đang mệt, nên tôi chỉ gửi một tin nhắn: "Mừng cậu về nhà, Kasumi", rồi trở về phòng mình.
Cởi giày ở bậc thềm chật hẹp, tôi bước vào căn phòng bừa bộn và đang cởi áo khoác thì nghe thấy tiếng gõ cửa *cốc cốc*.
Chẳng cần xác nhận xem là ai, tôi vừa mở cửa vừa nói vọng ra hành lang:
"Mừng cậu về nhà, Kasumi...!"
"Tớ về rồi đây!"
Kasumi lao ra từ sau cánh cửa. Chúng tôi nắm lấy tay nhau, cùng nhảy cẫng lên *tưng tưng*. Dù không thể hét to, nhưng thấy Kasumi vẫn khỏe mạnh như xưa và chúng tôi lại được làm hàng xóm của nhau, tôi vui sướng vô cùng.
"Này, quà cho cậu đây."
Thứ Kasumi đưa cho tôi là một con thú nhồi bông tròn vo, màu da người, trông giống như một cây nấm mọc thêm mắt và chân.
"Điêu! Không thể nào! Cái này là..."
Suýt nữa thì tôi hét toáng lên, vội vàng lấy tay bịt miệng. Vì quá vui sướng mà chân tay tôi cứ luống cuống cả lên.
"Là 'Hokkun', nhân vật tớ thích nhất đấy."
"Thật không đấy? Cậu đã đi tận đến Yamaguchi sao?"
Kasumi gật đầu thật mạnh.
"Tại tớ suy sụp quá nên bố mẹ lo, hỏi có muốn đi du lịch đâu đó không... Thế là tớ đánh liều bảo muốn đi Trạm dừng chân Hohoku, ai ngờ bố mẹ đưa đi thật."
Kasumi nói với vẻ mặt đắc ý tràn trề. Trạm dừng chân nằm ở cực Tây đảo Honshu mang tên "Kitaura Kaido Hohoku" tọa lạc tại vùng Hohoku, thành phố Shimonoseki, tỉnh Yamaguchi, và "Hokkun" chính là linh vật của nơi đó.
Hắn lật ngược nó lên ngang tầm mắt, điệu bộ rụt rè ghé mũi ngửi qua lớp khẩu trang.
"Trông như lá cây bình thường thôi... Cây Nam Thiên chăng?"
"Nó chui ra từ đâu thế nhỉ?"
Cả hai cùng nhòm vào thùng các tông. Akane ló mặt ra từ sau chiếc ghế, nhưng từ góc này, em chẳng thấy gì ngoài chân của Freud và Wota-mori, mặt dưới cái bàn và mặt bên của cái thùng.
"Có vẻ như người ta rải nó quanh lớp đệm chống sốc. Để khi nhấc hộp lên thì lá sẽ rơi lả tả xuống."
"Cố tình sao ạ?"
"Tôi nghĩ vậy."
Wota-mori lại chụp tấm ảnh chiếc lá Nam Thiên rơi trên bàn.
Thứ lấy ra từ thùng ngoài là một chiếc hộp đỏ rực, được bọc trong lớp đệm. Khi gỡ bỏ lớp xốp hơi bong bóng, hiện ra một chiếc hộp dán giấy Washi, được buộc bằng dây thừng tua rua hai màu đỏ trắng hệt như chiếc hộp Tamatebako trong truyền thuyết.
Sự tò mò lấn át nỗi sợ hãi, Akane nhổm người dậy.
"Ừm. Chắc chắn có gì đó bên trong. Cảm giác cầm trên tay thì là vật rắn..."
Freud nói. Akane đứng hẳn lên từ sau chiếc ghế.
"Đầu tư vào mấy chỗ kỳ quặc thật đấy. Kẻ bán mộng này hẳn có khí chất Otaku rồi."
Freud giơ chiếc hộp lên cao quá đầu để soi mặt đáy. Tuy nhiên, có vẻ chẳng có gì khả nghi. Anh đặt lại chiếc hộp xuống bàn, đặt tay lên sợi dây và ngoái lại nhìn Akane.
"Tôi mở nhé?"
"Vâng."
Akane dùng chiếc ghế làm khiên chắn, thủ thế phòng bị.
Gió lùa tới làm rung chuyển cả khu rừng. Tiếng ve sầu đã tắt lịm từ lúc nào, chỉ còn tiếng vo vo từ mớ thiết bị điện tử của Wota-mori. Những ngón tay thon dài của Freud, bọc trong găng tay trắng, kéo sợi dây. Sợi dây đỏ trắng tuột ra nhẹ nhàng, nằm duỗi dài sang hai bên hộp. Chiếc hộp thuộc loại nắp đậy trùm lên thân, phần nắp được làm rộng hơn nên nếu không có dây buộc thì nắp sẽ bung ra ngay. Freud đặt tay lên nắp, ngước mắt nhìn Wota-mori.
"Mở đây."
"Xin mời."
Phối hợp nhịp nhàng, Freud nhấc nắp hộp lên.
Máy ảnh của Wota-mori chớp sáng, Akane theo phản xạ quay mặt đi. Thế nhưng...
"Ơ kìa."
Một giọng nói kỳ quặc vang lên khiến Akane nhìn lại vào chiếc hộp. Một mùi hương hoa ngọt ngào thoảng qua từ đâu đó.
"Cái gì thế này."
Trên mặt bàn vương vãi lá cây, giờ lại lả tả những cánh hoa đủ màu sắc. Vài cánh rơi xuống sàn, rung rinh trong gió lùa. Freud và Wota-mori chụm đầu vào nhau nhòm vào trong hộp, rồi Freud đưa tay vào chiếc hộp đỏ, dùng đầu ngón tay nhón lấy một vật gì đó lên.
Đó là một chú chó giấy bồi nhỏ nhắn xinh xắn. Đôi mắt tròn xoe, thân mình trắng điểm đốm.
Akane đẩy ghế của Wota-mori về lại bàn làm việc.
Tiếp theo, thứ Wota-mori cầm lên là một con quay cũng được tô vẽ sặc sỡ. Hai người đặt chúng lên bàn, rồi lấy thêm những vật khác ra. Chuông, quả cầu Temari, mặt nạ, búp bê đất nung, những viên bi ve to tướng, và cả những cành mận đỏ trắng, mỗi loại một cành.
Cuối cùng Akane cũng bước lại gần bàn. Bên trong chiếc hộp đỏ dán giấy Washi lèn chặt những cánh hoa rực rỡ sắc màu. Hồng phấn, vàng, trắng, xanh lam, tím. Từng cánh hoa to bản, có vẻ như có cả hoa hồng lẫn cánh hoa sen. Và những món đồ chơi mộc mạc tuyệt đẹp nằm vùi giữa những lớp cánh hoa ấy. Mùi hương ngọt ngào chính là hương hoa, nương theo làn gió nhẹ lan tỏa khắp căn nhà lắp ghép.
"Oa... đẹp quá đi mất... Hèn gì giá lại cao đến thế."
Freud lấy tất cả những vật bị vùi trong cánh hoa ra và xếp ngay ngắn. Khung cảnh những bông hoa kiều diễm nằm cạnh những món đồ chơi mộc mạc toát lên vẻ lộng lẫy và đẹp đẽ tựa như một giấc mơ. Kẹp chiếc máy ảnh bên nách, Wota-mori hỏi.
"Nói toạc ra thì, cái đống này làm sao khiến người ta gặp Hung mộng được chứ? Mánh lới kiểu gì đây?"
Freud im lặng.
"Mấy cái này, toàn bộ là cánh hoa thật đúng không? Hay là hoa của loài thực vật gây ảo giác nào đó nhỉ. Cái này trông giống cánh hoa hồng này."
Khi ghé mũi ngửi, quả nhiên là mùi hoa hồng. Mùi hương từ vườn hồng của Hiệu trưởng vào tháng Sáu.
"Hừm..."
Một lúc sau, Freud mới trầm ngâm lên tiếng. Anh trút hết cánh hoa ra bàn, kiểm tra chiếc hộp rỗng không. Cái hộp chỉ là cái hộp đơn thuần, không có thiết bị phát âm thanh, cũng chẳng có mánh khóe thôi miên nào được cài cắm.
"May mà không phải thứ gì đáng sợ."
Akane nói lời thật lòng.
"Cũng không chứa ma túy hay thảo dược trái phép, hay là... một loại bùa chú nào đó chăng?"
"Cái đống này thì bùa chú ở chỗ nào hả?"
"Biết đâu ở đất nước nào đó lại có loại bùa chú thế này thì sao? Dùng hoa và đồ chơi để thấy Hung mộng ấy... A, em hiểu rồi. Chắc chắn là vậy. Những người hiểu về văn hóa đó mua giấc mơ với tâm thế như mua túi may mắn, háo hức chờ xem thứ gì sẽ được gửi đến. Thế nên đánh giá mới cao như vậy. Bởi vì nó được đầu tư rất kỹ lưỡng mà. Từ cách đóng gói, cho đến việc sắp đặt lá cây và cánh hoa nữa."
"Ra là vậy."
Có vẻ ấn tượng với lời giải thích của Akane, Freud khẽ gật đầu. Anh đi về bàn làm việc của mình, bắt đầu tra cứu trên máy tính. Dường như anh đang tìm kiếm về các loại bùa chú và phong tục liên quan đến giấc mơ ở các quốc gia khác nhau.
"Máu gì thế này? Không phải của người đâu nhỉ?"
Freud im lặng, nhưng rồi từ từ đứng dậy, lục lọi bàn làm việc của mình, mang ra tăm bông và túi nilon. Anh thấm đầu tăm bông vào vũng máu, lấy mẫu rồi bỏ vào túi.
"Để tôi nhờ trường giám định DNA. Wota-mori, chụp ảnh đi."
Lần này Wota-mori ngoan ngoãn cầm máy ảnh lên, thu lại thảm trạng trên sàn nhà vào ống kính.
Freud cũng quấn những sợi tóc vào đầu tăm bông, rồi bỏ cả vào túi nilon.
"Tôi nghĩ không có chân tóc thì khó mà giám định DNA được, nhưng dùng kính hiển vi sẽ biết là tóc thật hay giả."
"Ít nhất thì răng là hàng thật đấy. Có cả chân răng, lại còn bị sâu nữa... Răng bẩn vãi, tên này có đánh răng không thế."
Wota-mori nói. Akane thực sự sắp nôn đến nơi. Sau khi kiểm tra xong xuôi từ cái hộp, bao bì, hóa đơn vận chuyển cho đến băng dính, Freud cuối cùng mới hỏi Akane.
"Akane-kun. Ổn không?"
"Không ổn. Em sắp nôn rồi."
"Đừng có nôn ở đây đấy nhé? Dọn dẹp sẽ phiền phức thêm thôi."
"Giáo sư chỉ lo chuyện đó thôi hả?"
Cú sốc chẳng hiểu sao lại chuyển thành cơn giận, Akane gào lên.
"Vốn dĩ là tại chuyện đó còn gì! Tại hai người không chịu mở hộp cùng em, bắt em phải làm một mình."
"Rồi rồi, biết rồi, khổ lắm. Anh hiểu rồi mà."
Vừa nói, Wota-mori vừa bĩu môi:
"Nhưng Peko cứ đinh ninh cái gửi đến là Cát mộng, nên cũng đành chịu thôi chứ sao."
Quả đúng như anh nói, có ai ngờ được rằng trong cái Cát mộng mua về để khích lệ bản thân đang tìm việc làm, sau khi đã trao đổi qua mail đàng hoàng, lại chứa những thứ như thế này: máu, tóc, và răng người.
"Dù là đùa thì cũng quá trớn, mà là trò nghịch ngợm thì cũng quá ác ý rồi."
Freud lẩm bẩm, rồi chẳng biết nghĩ gì, Wota-mori kết nối máy tính vào trang Avocado. Sau khi tìm kiếm, anh quay lại nói.
"Kẻ bán giấc mơ đã gỡ bỏ sản phẩm rồi. Không thấy đâu cả. Dấu vết bán giấc mơ hay đánh giá cũng không còn."
"Hả. Tại sao chứ?"
"Thanh toán xong xuôi rồi, nếu giao nhầm hàng thì phải khiếu nại chứ? Vốn dĩ giá của Hung mộng và Cát mộng hoàn toàn khác nhau mà. Anh nghĩ thế nên mới tra thử, ai ngờ cả cái mục đó đã biến mất. Chẳng còn kệ hàng nào cả."
"Hả, vậy là không khiếu nại được sao?"
"Còn mail thì sao? Lúc đặt hàng các em có trao đổi qua mail mà nhỉ."
Nghe Freud nói, Akane lấy điện thoại ra. Cô vốn giữ liên lạc với kẻ bán giấc mơ qua mail, nhưng khi gửi đi, một thông báo không thể gửi được trả về.
"Oa... Mất liên lạc luôn rồi."
Ba người cùng nhìn xuống vũng máu đen ngòm làm bẩn sàn nhà, cùng mớ tóc và những chiếc răng.
Nếu bị gửi cho những thứ này, ai mà chẳng gặp ác mộng cơ chứ. Nhưng mà, số máu này... mớ tóc này... những chiếc răng rụng này... rốt cuộc có nguồn gốc từ đâu?
Bên ngoài cửa sổ, lũ quạ và chim hoang dã đang vừa kêu gào ầm ĩ vừa đánh nhau."Máu gì thế này? Không phải của người đâu nhỉ?"
Freud im lặng, nhưng rồi từ từ đứng dậy, lục lọi bàn làm việc của mình, mang ra tăm bông và túi nilon. Anh thấm đầu tăm bông vào vũng máu, lấy mẫu rồi bỏ vào túi.
"Để tôi nhờ trường giám định DNA. Wota-mori, chụp ảnh đi."
Lần này Wota-mori ngoan ngoãn cầm máy ảnh lên, thu lại thảm trạng trên sàn nhà vào ống kính.
Freud cũng quấn những sợi tóc vào đầu tăm bông, rồi bỏ cả vào túi nilon.
"Tôi nghĩ không có chân tóc thì khó mà giám định DNA được, nhưng dùng kính hiển vi sẽ biết là tóc thật hay giả."
"Ít nhất thì răng là hàng thật đấy. Có cả chân răng, lại còn bị sâu nữa... Răng bẩn vãi, tên này có đánh răng không thế."
Wota-mori nói. Akane thực sự sắp nôn đến nơi. Sau khi kiểm tra xong xuôi từ cái hộp, bao bì, hóa đơn vận chuyển cho đến băng dính, Freud cuối cùng mới hỏi Akane.
"Akane-kun. Ổn không?"
"Không ổn. Em sắp nôn rồi."
"Đừng có nôn ở đây đấy nhé? Dọn dẹp sẽ phiền phức thêm thôi."
"Giáo sư chỉ lo chuyện đó thôi hả?"
Cú sốc chẳng hiểu sao lại chuyển thành cơn giận, Akane gào lên.
"Vốn dĩ là tại chuyện đó còn gì! Tại hai người không chịu mở hộp cùng em, bắt em phải làm một mình."
"Rồi rồi, biết rồi, khổ lắm. Anh hiểu rồi mà."
Vừa nói, Wota-mori vừa bĩu môi:
"Nhưng Peko cứ đinh ninh cái gửi đến là Cát mộng, nên cũng đành chịu thôi chứ sao."
Quả đúng như anh nói, có ai ngờ được rằng trong cái Cát mộng mua về để khích lệ bản thân đang tìm việc làm, sau khi đã trao đổi qua mail đàng hoàng, lại chứa những thứ như thế này: máu, tóc, và răng người.
"Dù là đùa thì cũng quá trớn, mà là trò nghịch ngợm thì cũng quá ác ý rồi."
Freud lẩm bẩm, rồi chẳng biết nghĩ gì, Wota-mori kết nối máy tính vào trang Avocado. Sau khi tìm kiếm, anh quay lại nói.
"Kẻ bán giấc mơ đã gỡ bỏ sản phẩm rồi. Không thấy đâu cả. Dấu vết bán giấc mơ hay đánh giá cũng không còn."
"Hả. Tại sao chứ?"
"Thanh toán xong xuôi rồi, nếu giao nhầm hàng thì phải khiếu nại chứ? Vốn dĩ giá của Hung mộng và Cát mộng hoàn toàn khác nhau mà. Anh nghĩ thế nên mới tra thử, ai ngờ cả cái mục đó đã biến mất. Chẳng còn kệ hàng nào cả."
"Hả, vậy là không khiếu nại được sao?"
"Còn mail thì sao? Lúc đặt hàng các em có trao đổi qua mail mà nhỉ."
Nghe Freud nói, Akane lấy điện thoại ra. Cô vốn giữ liên lạc với kẻ bán giấc mơ qua mail, nhưng khi gửi đi, một thông báo không thể gửi được trả về.
"Oa... Mất liên lạc luôn rồi."
Ba người cùng nhìn xuống vũng máu đen ngòm làm bẩn sàn nhà, cùng mớ tóc và những chiếc răng.
Nếu bị gửi cho những thứ này, ai mà chẳng gặp ác mộng cơ chứ. Nhưng mà, số máu này... mớ tóc này... những chiếc răng rụng này... rốt cuộc có nguồn gốc từ đâu?
Bên ngoài cửa sổ, lũ quạ và chim hoang dã đang vừa kêu gào ầm ĩ vừa đánh nhau.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
