Biên Niên Sử Chiến Tranh Wortenia

Chương kế tiếp:

Truyện tương tự

Tôi trở thành học viên đặc biệt của Học viện

(Đang ra)

Tôi trở thành học viên đặc biệt của Học viện

두두두우

Và rồi… sang ngày hôm sau, thế giới trước mắt bỗng chìm vào bóng tối — Tôi không còn nhìn thấy gì ,yếu ớt và gần như không thể nói

523 3227

Chị Khóa Trên Đáng Ngưỡng Mộ Lại Muốn Làm "Em Gái" Nhõng Nhẽo Với Tôi Là Sao!?

(Đang ra)

Chị Khóa Trên Đáng Ngưỡng Mộ Lại Muốn Làm "Em Gái" Nhõng Nhẽo Với Tôi Là Sao!?

toshizou

Câu chuyện hài kịch tình yêu bách hợp đầy trái ngang giữa cô chị kế ưu tú và cô em tự nhận mình là bình thường chính thức bắt đầu!!

7 27

Cẩm nang Speedrun của cô phù thủy

(Đang ra)

Cẩm nang Speedrun của cô phù thủy

Bu Luofeng

Chỉ là cô đặc biệt giỏi trong việc dập tắt hiểm nguy ngay trước khi nó kịp bắt đầu.

16 39

Bạn Gái Của Tôi Đến Từ Tương Lai!

(Đang ra)

Bạn Gái Của Tôi Đến Từ Tương Lai!

Tao Trà

Thế là, từng màn câu chuyện chẳng biết là gặp gỡ hay là trùng phùng bắt đầu diễn ra.

734 6535

Mỗi Lính Đánh Thuê Trở Về Đều Có Một Kế Hoạch

(Đang ra)

Mỗi Lính Đánh Thuê Trở Về Đều Có Một Kế Hoạch

골드행

Ghislain Ferdium, Vua lính đánh thuê và là một trong bảy người đứng đầu lục địa, đã bắt đầu một cuộc chiến tranh lớn để trả thù cho gia đình đã mất của mình. Kế hoạch trả thù của anh diễn ra suôn sẻ c

925 2102

Vol 14 - Mở đầu

Mở đầu

Tại cực Nam của Rhoadseria, một trong ba vương quốc ở khu vực phía Đông của lục địa phía Tây, vô số bóng người đang đứng trên một ngọn đồi ở phía Bắc Galatia, một thành phố nằm trên biên giới giữa Rhoadseria và Tarja. Đó là một đêm tối tăm. Một lớp mây dày đặc treo lơ lửng trên bầu trời, che khuất ánh trăng và những vì sao. Đó là một đêm bị cai trị bởi quái vật, đặc biệt là ở một nơi như thế này, cách xa những cột rào chắn bảo vệ các thành phố và xa lộ.

Tuy nhiên, nơi này còn hoang vắng hơn hầu hết mọi nơi khác. Không có loại thảo dược nào mọc ở đây có thể dùng làm thuốc, và cũng không có con quái vật nào xung quanh cần phải tiêu diệt. Kết quả là, không có lính đánh thuê hay nhà thám hiểm nào tự nguyện đến nơi này. Những kẻ duy nhất tìm đến đây là những kẻ khao khát một nơi tối tăm để ẩn mình khỏi những ánh mắt tò mò — giống như những bóng người trên ngọn đồi này ngay lúc này.

Đứng ở phía trước là một người đàn ông khoanh tay khi ngước nhìn bầu trời. Anh ta cao 180 cm, mặc áo giáp da và đeo mặt nạ để che giấu các đường nét của mình, cả hai đều có màu đen như mực.

7a42b60e-75ce-4349-947d-2a7987a4136e.jpg

Ngay cả khi các đặc điểm khuôn mặt bị che khuất, sát khí của anh ta vẫn có thể cảm nhận rõ ràng đối với tất cả những người xung quanh, giống như một lưỡi kiếm lóe lên trong đêm. Người đàn ông này rõ ràng đã sống sót qua nhiều chiến trường hơn hầu hết mọi người. Bên dưới lớp áo giáp vốn được chế tạo bằng những kỹ thuật tinh xảo nhất của Tổ Chức, vô số vết sẹo chằng chịt khắp cơ thể anh ta, từ vết thương do đạn bắn đến những vết chém, và thậm chí là một vết sẹo từ những mảnh vỡ của một quả tên lửa bắn về phía mình. Anh ta là một chiến binh dày dạn kinh nghiệm nếu có ai đó xứng đáng với danh hiệu đó.

Tên của người đàn ông là Samuel Kinkaid. Anh ta đang dẫn đầu Lũ Chó Săn trong cuộc đột kích cụ thể này.

Một đêm tối hoàn toàn. Nó làm mình nhớ đến lần đó.

Một ký ức nhất định hiện lên trong tâm trí Samuel. Đó là từ trước khi anh bị triệu hồi đến thế giới này. Khi đó, anh là một phần của chiến dịch bí mật tại Afghanistan do Hoa Kỳ, siêu cường thế giới, thực hiện. Anh từng là đại úy trong Lực lượng Trinh sát của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (Marine Corps Force Reconnaissance), và đã tham gia vào một chiến dịch xâm nhập cùng các đồng đội của mình để thu thập thông tin quan trọng.

Afghanistan ngày nay không phải là một đất nước giàu có. Hay đúng hơn, nó đã không thể trở nên giàu có.

Quốc gia mà sau này trở thành Afghanistan đã tồn tại từ thời cổ đại, nhưng nó chỉ mang cái tên đó vào giữa thế kỷ XIX.

Tuy nhiên, một phần đất đai của nó từng là nơi sinh sống của Nền văn minh Thung lũng Indus, một trong bốn nền văn minh lớn của thế giới cổ đại. Đây cũng là một khu vực tương đối rộng lớn, xấp xỉ gấp đôi Nhật Bản, nhưng nó có kích thước tương đương với các nước láng giềng Iran và Pakistan, vì vậy nó không đặc biệt bao la. Và trên hết, các cuộc khảo sát gần đây đã xác định được các trữ lượng dầu mỏ.

Vì Afghanistan là một quốc gia không giáp biển, giao thông vận tải bị hạn chế ở đường bộ và đường hàng không — một bất lợi lớn. Đường hàng không cho đến nay là phương thức di chuyển nhanh nhất, nhưng khi nói đến việc vận chuyển số lượng lớn hàng tiếp tế, tàu thủy vẫn được ưu tiên hơn.

Afghanistan là một quốc gia đa dân tộc, điều này đã dẫn đến những xung đột trong dân cư. Nhưng có nhiều quốc gia ở Trung Á, và trên toàn thế giới, cũng chia sẻ vấn đề này. Và mặc dù còn xa mới đạt tới mức hoàn hảo, nó vẫn có những điểm tốt. Ví dụ, nó có các Tượng Phật Bamiyan, một di sản văn hóa từ thời cổ đại phương Đông thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Nếu họ tận dụng được những tài sản văn hóa này và sự phong phú của tài nguyên dưới lòng đất, họ sẽ sánh ngang với thành công tài chính của các nước láng giềng Trung Đông.

Nhưng Afghanistan không chỉ có các di sản văn hóa và dầu mỏ. Trong suốt lịch sử lâu dài và đầy thăng trầm của mình, mảnh đất của nó đã thấm đẫm máu của người dân khi họ chiến đấu chống lại vô số kẻ xâm lược. Quá khứ của nó rải rác nhiều triều đại và quốc gia đã nắm quyền kiểm soát vùng đất này — đầu tiên là Đế chế Achaemenid của Ba Tư, triều đại từng cai trị vùng Cổ đại Phương Đông.

Vào cuối thế kỷ XIX, Afghanistan đã giành được độc lập từ Đế quốc Anh. Kể từ đó, họ đã trải qua nhiều cuộc cách mạng, chỉ để Liên bang Xô viết, quốc gia cạnh tranh với Hoa Kỳ để kiểm soát thế giới, tàn phá vùng đất của họ. Sau đó, họ rơi dưới sự kiểm soát trên thực tế của Taliban, một tổ chức Hồi giáo cực đoan.

Nghĩ về đất nước mà mình đã phục vụ trong nhiều năm, Samuel cảm thấy một cục nghẹn nhỏ trong cổ họng. Anh đã đến Afghanistan theo lệnh của quê hương, và lý do đó hoàn toàn không đáng ngưỡng mộ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã bị chỉ trích nặng nề vì các chiến dịch tại Afghanistan. Những người chưa bao giờ bước ra khỏi vùng an toàn của mình và phớt lờ sức nặng của thực tại đã lớn tiếng tố cáo hành động của họ. Nhưng những người đó không biết gì về sự tàn khốc hay sự lạnh lùng của thế giới này. Chỉ những người có mặt ở đó mới có thể biết. Ai đó phải lội qua bùn lầy và nhơ nhuốc, vì vậy Samuel không hối hận về bất cứ điều gì anh và các đồng đội đã làm khi đó. Sau cùng, họ đã bảo vệ quê hương mình. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến cuộc sống hàng ngày của người dân Afghanistan, Samuel không thể phủ nhận rằng anh cảm thấy mâu thuẫn.

Có lẽ điều đó nghe như một sự mâu thuẫn, và chính xác là như vậy. Nếu ai đó muốn gọi mình là kẻ đạo đức giả, chà, họ không sai.

Mặt khác, đây là một phần của những gì tạo nên con người anh. Thực sự, anh chia sẻ trách nhiệm về tình cảnh mà Afghanistan đang gặp phải lúc này, ngay cả khi anh ước mình không phải như vậy.

Cho dù mình nghĩ gì đi nữa, nó cũng không thay đổi được sự thật rằng các cường quốc thế giới đã đùa giỡn với họ, và trong nhiều năm, họ không thể đạt được nền hòa bình cần thiết để phát triển tài chính... thật buồn thay.

Có lẽ những gì Samuel cảm thấy là sự thương hại. Nhưng với tư cách là một người lính, bản năng buộc anh phải đưa ra những quyết định trong tích tắc.

Cuối cùng, việc yếu thế khiến một người phải chịu sự phó mặc của những kẻ mạnh hơn mình, cho dù đó là các cá nhân hay toàn bộ quốc gia. Những kẻ không đủ sáng suốt để biết mình đang bị lừa gạt sẽ phải nhảy theo điệu nhạc của kẻ thao túng xảo quyệt.

Ngay cả ở đây, tại thế giới khác này, sự thật đó vẫn đúng. Những lý tưởng như hòa bình quốc gia và nhân quyền không tồn tại ở đây. Đó là một vùng đất chém giết, nơi các quốc gia chiến đấu không ngừng nghỉ vì lợi ích của chính họ. Nếu họ thắng, họ sẽ có vinh quang và thịnh vượng. Nếu họ thua, chính đất nước đó có thể bị xóa sổ khỏi bản đồ. Sự sống sót của kẻ mạnh nhất trị vì tối cao.

Về phương diện đó, thế giới này không khác gì những chiến trường mà Samuel từng biết. Những nơi anh chiến đấu cũng là những không gian mà những lời nói sáo rỗng về hòa bình và bình đẳng chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, sự tương đồng không dừng lại ở đó.

Mức sống ở đây giống như thời Trung Cổ. Ngay cả đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh kia (Afghanistan) vẫn còn khấm khá hơn. Ít nhất thì họ có điện và ô tô. Có một thế giới khác biệt, nhưng...

Ở thế giới này, họ sẽ nghĩ điện chỉ đơn giản là năng lượng, và ngôn linh pháp thuật (verbal thaumaturgy) có những câu chú sử dụng tia sét. Nhưng ngay cả khi họ có thể triệu hồi sấm sét và sử dụng điện ở một mức độ nào đó, họ chỉ có thể sử dụng nó như một vũ khí để tiêu diệt kẻ thù. Họ không thể sử dụng nó như một công cụ để vận hành mọi thứ theo cách mà xã hội hiện đại đã làm. Thứ gần giống nhất mà họ có là phú băm pháp thuật (endowed thaumaturgy), sử dụng prana làm nguồn năng lượng.

Sự thiếu vắng tính hiện đại ở đây khiến Samuel cảm thấy gần như hoài niệm.

Nơi này thực sự làm mình nhớ đến Afghanistan.

Không phải tất cả các con đường ở Afghanistan đều được trải nhựa, cũng không có nhiều đèn đường. Hơn nữa, Samuel nhớ về một Afghanistan trong thời kỳ chiến tranh, lúc mà nguồn cung cấp điện của các thành phố bị hạn chế. Nhiều binh lính mà anh đối mặt ẩn náu trong các hang động rải rác trên vùng đất hoang, hoặc các nơi ẩn náu ở những địa điểm hẻo lánh. Những nơi như thế chỉ có ánh trăng và những ngôi sao lấp lánh làm nguồn sáng. Vì vậy, mặc dù Afghanistan khác biệt với nơi này như thế nào, Samuel vẫn cảm thấy như đang ở nhà khi đứng đây trong đêm tối.

Phải, nó thật tương đồng. Một vài thứ khác biệt, nhưng...

Nhiều thứ đã khác — thức ăn, quần áo và ngôn ngữ, chỉ là một vài ví dụ. Người ta có thể liệt kê vô số điểm không giống nhau. Thế giới này lạc hậu so với thế giới của Samuel trong hầu hết mọi lĩnh vực có thể tưởng tượng được. Mức sống thấp, và hóa học vẫn chưa được khám phá, vì vậy rõ ràng là nơi đây kém phát triển hơn nhiều.

Nhưng thế giới này vượt xa thế giới của mình ở một số thứ. Như là ma thuật chẳng hạn.

Lĩnh vực dịch thuật ngôn ngữ đặc biệt tiên tiến. Những người từ thế giới khác có thể giao tiếp mà không gặp bất kỳ khó khăn nào, điều này khiến nhiều người lầm tưởng rằng người dân ở đây nói cùng một ngôn ngữ. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Nghi lễ triệu hồi bao gồm một câu chú cho phép tâm trí họ bản năng thông hiểu các từ ngữ.

Tổ Chức bao gồm những người thuộc mọi sắc tộc, từ những người Mỹ như Samuel đến người Trung Quốc và người Nhật Bản. Một thành viên đến từ Uganda ở bờ biển phía Đông châu Phi và nói tiếng Swahili. Thậm chí như vậy, Tổ Chức với thành viên đa văn hóa, đa ngôn ngữ chưa bao giờ gặp khó khăn trong việc giao tiếp.

Ngày nay, điện thoại thông minh được trang bị các ứng dụng dịch thuật, và mọi người có thể mang theo từ điển bỏ túi. Nhưng ngay cả với những tiến bộ đó, thế giới này vẫn ưu việt hơn. Không có ứng dụng hay từ điển nào có thể tự động dịch lời nói của người khác mà không cần thêm bất kỳ cú nhấp chuột hay thao tác nào, cũng như không cho phép người ta đàm thoại như thể họ đang nói bằng tiếng mẹ đẻ.

Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất giữa hai thế giới là việc Samuel có thể hoạt động vào ban đêm mà không cần kính nhìn đêm (night-vision goggles).

Pháp thuật (Thaumaturgy), dù là ngôn linh hay võ thuật, đều khá tiện lợi. Tuy nhiên, mình không cảm thấy thoải mái lắm khi không biết những nguyên lý nào khiến nó làm được những việc nó đang làm.

Kính nhìn đêm thường áp dụng một bộ lọc màu xanh lá cây vì nó được đặt theo màu sắc ở bước sóng trung bình của ánh sáng khả kiến, và đó là màu dễ cảm nhận nhất đối với mắt người. Lý lẽ tương tự cũng giải thích tại sao tốt nhất nên nhìn vào thứ gì đó màu xanh lá cây khi mắt bị mỏi.

Mặc dù hiện tại không đeo kính nhìn đêm, Samuel vẫn có thể nhìn thấy môi trường xung quanh mình hoàn hảo và với đầy đủ màu sắc. Ngay cả những thiết bị nhìn đêm tiên tiến nhất cũng sẽ khiến tầm nhìn của một người cảm thấy khác thường, nhưng không có vấn đề như vậy với pháp thuật.

Khuyết điểm duy nhất mà pháp thuật có là nó phải được học. Ngoài ra, nó tiêu tốn prana của một người. Vì Samuel vẫn chưa đạt được khả năng sử dụng luân xa thứ sáu — luân xa Ajna — nên anh không thể tăng cường thị lực một cách nhất quán. Nếu đó là tất cả những gì anh tập trung vào, hiệu quả có thể kéo dài trong hai ngày — giả sử anh không làm gì khác. Tuy nhiên, nếu anh tăng cường cơ thể để chiến đấu, nghi ngờ liệu hiệu quả có kéo dài được nửa ngày hay không. Dù vậy, những điểm tích cực vẫn vượt xa những điểm tiêu cực đó.

Chúng ta có thể sử dụng pháp thuật để tăng cường đôi mắt, vì vậy mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ đối với chúng ta. Tuy nhiên, những binh lính bình thường phải mang theo đuốc.

Chỉ một tỷ lệ nhỏ người có thể sử dụng pháp thuật. Những người không thể thì phải chấp nhận mức sống tương tự như thế kỷ XV cho đến đầu thế kỷ XVIII. Đối với họ, nến và đuốc là nguồn sáng chính. Nói cách khác, vì họ không biết đến sự tiện lợi của bóng đèn, con người vẫn phải vật lộn để hoạt động bên ngoài sau khi màn đêm buông xuống. Người ta có thể mang theo đèn dầu hoặc nến, nhưng chúng không hẳn là rẻ, và hầu hết thường dân tin vào việc tiết kiệm những nguồn lực ít ỏi mà họ có. Họ chỉ đi ngủ sớm. Họ sẽ dậy vào lúc bình minh, hoàn thành công việc của mình và về nhà lúc hoàng hôn. Sau đó họ sẽ ăn tối và đi ngủ. Hầu như không ai đi vất vưởng bên ngoài vào ban đêm, đặc biệt là vào một đêm tối tăm và không trăng như thế này.

Một cuộc sống làm việc lúc bình minh và về nhà lúc hoàng hôn...

Xã hội hiện đại có TV và máy tính, vì vậy không thiếu việc để làm bất kể giờ giấc. Nếu ai đó đột nhiên thấy đói vào giữa đêm, việc mua thứ gì đó tại một cửa hàng tiện lợi hoặc quán ăn mở cửa 24 giờ là đủ dễ dàng. Có lẽ đó không phải là những bữa ăn lành mạnh nhất, nhưng chúng làm no bụng.

Mọi thứ ở thế giới này thì khác. Không có tivi hay máy tính, và không có cửa hàng nào để thỏa mãn những cơn đói lúc nửa đêm. Đa số mọi người ngay từ đầu đã không biết chữ, vì vậy họ không thể giải trí bằng sách vở. Đối với họ, hiếm khi có lý do để thắp một ngọn đèn hay ngọn nến đắt tiền vào ban đêm. Những người thực sự cần ánh sáng vào thời điểm đó chỉ là những người già và ốm yếu, những người cần được chăm sóc liên tục.

Điều này có nghĩa là Samuel và người của anh ta sẽ không gặp phải bất kỳ sự gián đoạn vô ích nào.

Đó là điều mà những con người hiện đại chúng ta, những người bị ràng buộc bởi xiềng xích của thời gian kể từ khi sinh ra, không thể làm quen được.

Samuel hiểu ý tưởng về việc dẫn đầu một lối sống lành mạnh, nhưng sau khi phục vụ như một người lính trong nhiều năm, anh thực sự không phân biệt nhiều giữa đêm và ngày. Ngoại trừ những người giàu có và quyền lực, những người có thể mua được một chiếc đồng hồ cơ khí, đa số mọi người đều dựa vào mặt trời để xem giờ.

Tất cả những yếu tố này làm cho đêm nay trở thành cơ hội hoàn hảo. Mục tiêu của họ là dinh thự của Bá tước Winzer, nằm trong thành phố thành trì Galatia. Họ sẽ cần phải vượt qua các bức tường để xâm nhập vào thành phố. Họ đã chọn con đường ít gây chú ý nhất có thể và ghi nhớ lộ trình đến dinh thự của Bá tước Winzer.

Nhưng ngay cả một kế hoạch được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cũng có thể gặp phải những diễn biến bất ngờ. Ai đó có thể bị thương hoặc bị bệnh, điều này đòi hỏi phải đi khám bác sĩ vào đêm khuya. Một kẻ say xỉn có thể lảo đảo bước ra từ một con hẻm, hoặc một tên trộm đang lảng vảng trên phố có thể băng qua con đường của họ. Tất nhiên, Samuel không thực sự nghĩ rằng họ sẽ rơi vào tình huống như vậy. Thành thật mà nói, những kịch bản đó gần như là bất khả thi.

Chà, ngay cả khi nó xảy ra, tất cả chúng ta đều đủ kinh nghiệm để hành động mà không do dự để bịt đầu mối các nhân chứng.

Samuel mỉm cười cay đắng. Đó là một kết luận hiển nhiên, xét theo quá khứ của anh. Bất cứ ai không may đụng độ với Lũ Chó Săn sẽ bị xử lý ngay lập tức — như đã xảy ra với tất cả những kẻ dám nhìn thấy những thứ mà họ không được phép thấy. Đó lại là một sự thật khác vẫn đúng cho dù bạn đang ở thế giới nào.

Samuel không tự hào về điều đó, nhưng đôi tay anh đã vấy máu của rất nhiều người. Cho dù anh đã sử dụng súng, dao, hay chính đôi tay trần của mình, anh đã đứng vững trên chiến trường theo lệnh của quê hương. Những sinh mạng anh đã cướp đi bám lấy anh theo dòng thời gian, đông lại như máu và để lại vết ố vĩnh viễn trên con người anh.

Sau đó, khi Samuel được triệu hồi đến thế giới này, anh tiếp tục chiến đấu cho Tổ Chức, để bảo vệ mạng sống và danh dự của các đồng đội. Quyết tâm đó đã dẫn dắt anh giết chết nhiều kẻ thù, và không chỉ là những đối thủ có vũ trang. Anh thậm chí đã nhẫn tâm sát hại cả phụ nữ và trẻ em. Ưu tiên hàng đầu của anh luôn là hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nếu cần thiết, anh sẽ dùng đến bất kỳ phương tiện nào, bất kể dơ bẩn đến đâu.

Lần này cũng không ngoại lệ. Vẫn chưa rõ nhiệm vụ của họ sẽ thành công hay thất bại, nhưng bằng cách nào đó, xác chết chắc chắn sẽ chất thành đống. Thêm một hay hai cái xác nữa thậm chí sẽ không bằng một giọt nước tràn ly.

Tuy nhiên, Samuel thực sự hy vọng không có nhân chứng nào như vậy xuất hiện. Mặc dù anh tàn nhẫn, anh không có loại tâm lý biến thái thích thú với hành động giết người. Anh sẽ giết người không nương tay khi cần thiết, nhưng anh không đủ vặn vẹo để muốn thực hiện những vụ giết người vô nghĩa. Bên cạnh đó, hành động không cần thiết rất có thể sẽ dẫn đến nguy hiểm xa hơn về sau. Việc bịt miệng ai đó là dễ dàng, nhưng điều đó có thể tạo ra nhiều nhân chứng hơn.

Ai đó có thể tình cờ bắt gặp chúng ta đang bịt miệng họ. Nghe giống như thứ gì đó bước ra từ một bộ phim giật gân.

Thực tế, một điều như vậy sẽ là một tình tiết rập khuôn trong một bộ phim.

Sẽ không có ai đi bộ bên ngoài vào một đêm không trăng đâu. Việc đi ngủ sớm thật tiện lợi cho chúng ta; nó giúp lũ dân bản địa không lăng xăng vướng mắt. Vấn đề duy nhất còn lại là thời gian.

Samuel lườm nhìn Galatia. Kế hoạch của anh lần này rất dễ dàng.

Đơn vị hành pháp ưu tú của Tổ Chức, Lũ Chó Săn, được cấu thành từ những người đến từ thế giới khác có trình độ ngang ngửa với các mạo hiểm giả cấp cao nhất. Tất cả họ đều đã học được vô số chiến thuật và kỹ thuật từ những cựu binh và sĩ quan cảnh sát. Và quá trình huấn luyện đó bao gồm cả xâm nhập và phá hoại. Đối với Tổ Chức, họ giống như Lực lượng Mũ Nồi Xanh (Green Berets) của Hoa Kỳ, hay Nhóm Lực lượng Đặc biệt (SFGp) của Nhật Bản. Từ góc nhìn của họ, việc tấn công một thống đốc khu vực và lấy đi một vật phẩm cụ thể từ hắn không phải là một nhiệm vụ đơn giản, nhưng miễn là chọn đúng thời điểm, họ có thể thực hiện nó mà không thất bại.

Tuy nhiên, Lũ Chó Săn không phải là vạn năng. Samuel sợ nhất một điều: sự trùng hợp. Người ta có thể chuẩn bị và đối phó với những điều tất yếu, nhưng sự trùng hợp là không thể tránh khỏi. Là một con người trần mắt thịt, điều tốt nhất anh có thể làm là chuẩn bị cho mọi tình huống dự phòng có thể xảy ra và cố gắng hết sức để thành công.

Dù sao thì, ưu tiên hàng đầu của chúng ta là thu hồi vũ khí hỏa lực. Chúng ta không thể thất bại.

Nhiệm vụ của họ là thu hồi một khẩu súng. Họ không biết đó là loại súng gì hay làm thế nào nó tìm được đường vào thế giới này, nhưng họ biết chắc chắn Bá tước Winzer đang sở hữu một khẩu súng.

Một khẩu súng lục ổ quay thường chứa được năm viên đạn. Nếu là súng tự động, miễn là không phải mẫu cải tiến với băng đạn dài hay thứ gì đó tương tự, nó có lẽ có vài chục viên đạn. Là một vũ khí chống bộ binh, nó khá là hiểm họa. Mặt khác, mối đe dọa của nó cũng bị hạn chế. Súng chỉ trở nên nguy hiểm khi được nạp đạn. Chắc chắn, chúng vẫn có thể được dùng làm vũ khí cùn ngay cả khi không có đạn, nhưng giá trị của chúng không nằm ở đó.

Đó là lý do tại sao hỏa khí trở thành vũ khí chính của chiến tranh hiện đại. Chúng mạnh hơn kiếm và dao. Tuy nhiên, điều đó chỉ áp dụng nếu đạn dược dồi dào, vừa rẻ vừa dễ sản xuất. Không nơi nào ở đây đạt được tỷ lệ sản xuất có thể xử lý việc sản xuất hàng loạt đạn dược.

Tổ Chức biết điều này, nhưng họ vẫn điên cuồng cử Lũ Chó Săn đi thu thập khẩu súng duy nhất này bằng mọi giá. Đó là bởi vì mục tiêu của họ là quản lý tiêu chuẩn công nghệ của thế giới này.

Thực tế đã có những trường hợp như thế này trong quá khứ. Mình không thể trách Tổ Chức vì đã lo lắng.

Samuel nghĩ lại một bài học lịch sử thế giới mà anh đã học ở trường trung học. Trường của anh không phải là một tổ chức danh giá; nó ở mức dưới trung bình. Nó không hẳn là một ngôi trường của lũ học sinh bất trị vô pháp luật như người ta thấy trong phim, nhưng anh thực sự có những người bạn cùng lớp đã bị đình chỉ hoặc đuổi học vì sở hữu ma túy hoặc vũ khí. Một vài người trong số họ thậm chí đã chết trước khi Samuel tốt nghiệp.

Điều này có nghĩa là rất ít học sinh chịu lắng nghe trong lớp. Và vì học sinh quá thiếu động lực, các giáo viên cũng không mặn mà với các bài giảng. Lịch sử thế giới là lớp học duy nhất khác biệt. Giáo viên đã sử dụng các câu chuyện ngụ ngôn để thu hút sự quan tâm của học sinh. Họ là một người hơi kỳ quặc, có phong cách riêng, thường đi du lịch khắp Nhật Bản trong các kỳ nghỉ và thăm các chiến trường cổ xưa. Họ thường bị lạc đề trong các bài giảng và kể cho cả lớp nghe những câu chuyện về những điểm đặc thù của Nhật Bản.

Một ngày nọ, giáo viên kể cho họ nghe về việc các thương nhân Tây Âu đã giới thiệu súng hỏa mai (arquebus) cho Nhật Bản vào giữa thế kỷ XVI như thế nào. Con tàu của họ gặp bão, và họ thấy mình ở đảo Tanegashima của Nhật Bản thuộc tỉnh Satsuma. Họ đã bán hai khẩu súng hỏa mai cho lãnh chúa của hòn đảo, Tokitaka Tanegashima, người đã yêu cầu các thợ rèn của mình làm việc để sao chép chúng.

Sau đó, súng hỏa mai trở thành vũ khí phổ biến ở Nhật Bản. Cuốn Thiết Pháo Ký (Teppouki), một cuốn sách lịch sử ghi lại chi tiết phả hệ của hỏa khí tại Nhật Bản, nói rằng các thương nhân Bồ Đào Nha đã mang súng hỏa mai đến Nhật Bản vào năm 1543. Sau đó, súng hỏa mai đã trở thành một trong những vũ khí chính trong kho vũ khí của Nhật Bản, bên cạnh thanh katana cùng cung và tên.

Có một giả thuyết cho rằng các thương nhân và hải tặc Nhật Bản, những người đi biển gần châu Á và đi xa về phía Nam đến tận Philippines, đã mang hỏa khí đến Nhật Bản thậm chí sớm hơn. Dù giả thuyết đó có đáng tin hay không, thì thực tế vẫn là các bản sao của súng hỏa mai đã được sản xuất với số lượng lớn trong thời Chiến Quốc ở Nhật Bản. Người ta nói rằng vào cuối thời kỳ đó, đã có hàng trăm nghìn khẩu súng hỏa mai ở Nhật Bản.

Nếu có thể tin tưởng cuốn Thiết Pháo Ký, thì chỉ trong vòng năm mươi năm, từ một khẩu súng hỏa mai duy nhất đã trở thành ngần ấy hỏa khí. Đó là một ví dụ điển hình cho thấy không biết điều gì có thể kích hoạt một cuộc đổi mới công nghệ.

Có lẽ tất cả những điều này chỉ đơn giản là một phép màu diễn ra do sự trùng hợp ở đất nước độc đáo là Nhật Bản.

Đồng thời, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang trong thời đại khám phá và đang thám hiểm thế giới để tìm kiếm sự giàu có và vinh quang. Các hiệp ước Zaragoza và Tordesillas đã chứng minh Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có bao nhiêu quyền lực. Những hiệp ước tự phụ này đã vẽ một đường kẻ trên bản đồ thế giới, chia nó làm hai để quyết định quốc gia nào được vùng đất nào. Họ đã làm tất cả những điều này mà không hề quan tâm đến những người đang sinh sống trên những vùng đất đó.

Người da trắng thời đó thật ngạo mạn. Những giáo lý của Giáo hội tuyên bố rằng họ là những người ưu tú được chọn, được Chúa ban phước. Họ đóng những con tàu galleon khổng lồ để băng qua đại dương, quyết tâm vén bức màn bí ẩn đang bao phủ thế giới.

Được trang bị công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ, họ định làm khuynh đảo thế giới và chinh phục bất cứ thứ gì cản đường họ. Họ có những con tàu mạnh mẽ, kỹ năng hàng hải siêu việt và những vũ khí được gọi là súng hỏa mai. Các quốc gia khác thậm chí còn không biết thứ vũ khí đó là gì, giống như Nhật Bản trước đó.

Samuel không nghĩ rằng bất kỳ quốc gia nào trong thế giới này có những điều kiện giống như Nhật Bản thời đó. Kể từ loạn Onin, Nhật Bản đã ở trong thời kỳ Chiến Quốc, điều này đã kích thích việc sản xuất vũ khí. Những hoàn cảnh đặc thù đó đã dẫn dắt họ sao chép súng hỏa mai và sản xuất nó với số lượng sánh ngang với các quốc gia khác. Điều đó có thể cũng sẽ xảy ra ở đây.

Tuy nhiên, mình nghi ngờ rằng những người ở đây có thể làm được những điều tương tự như người Nhật thời Chiến Quốc. Những vũ khí đến đây là súng lục ổ quay và súng trường tự động, và cấu trúc của chúng phức tạp hơn nhiều so với súng hỏa mai.

Thành thật mà nói, Samuel không biết liệu họ có thể sản xuất hàng loạt những hỏa khí này hay không. Một số người có thể gọi anh là kẻ phân biệt chủng tộc vì nghĩ như vậy.

Và đúng vậy, anh thực sự coi thường những người của thế giới này, gọi họ là những kẻ man di vô học. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh đang đánh giá thấp khả năng của họ. Những trận chiến mà anh đã trải qua ở Afghanistan đã dạy anh quá rõ rằng không được đánh giá thấp kẻ thù của mình. Người dân ở đây có thể kém phát triển về mặt công nghệ so với Trái Đất (Rearth), nhưng công bằng mà nói, thật sai lầm khi cho rằng họ hoàn toàn không thể sao chép một khẩu súng.

Dù vậy, nếu Tổ Chức thực sự không đánh giá thấp người dân thế giới này, mình ước gì họ cho phép chúng ta sử dụng những hỏa khí mà chúng ta đang có.

Chiến tranh hiện đại được xây dựng xung quanh việc sử dụng hỏa khí. Nó cũng bao gồm dao, các kỹ thuật võ thuật tay không và lưỡi lê của súng, nhưng hỏa khí mới là nhân vật chính. Trên những chiến trường nơi việc sử dụng hỏa khí không bị hạn chế, cả đồng minh và kẻ thù đều được dự kiến là sẽ mang theo súng. Cận chiến chỉ giới hạn trong những trường hợp người ta không thể sử dụng hỏa khí, ví dụ như khi họ bị mất súng hoặc hết đạn.

Hiện tại, Samuel và cấp dưới của anh không được trang bị bất kỳ khẩu súng hay thuốc nổ nào như C4. Tất cả những gì họ có là dao và kiếm.

Kiếm và giáo rõ ràng là những vũ khí hữu dụng, đặc biệt là ở nơi mà chiến đấu nhóm sử dụng vũ khí cổ xưa là chuẩn mực. Mình có thể hiểu tại sao họ cấm chúng ta sử dụng súng để ngăn chặn công nghệ đó bị rò rỉ. Và kế hoạch của chúng ta vẫn sẽ ổn thỏa ngay cả khi không có súng. Chúng ta đã được huấn luyện về chiến thuật du kích và các hình thức chiến tranh phi quy ước khác, vì vậy không có dân bản địa nào ở đây có thể sánh được với chúng ta. Nhưng...

Mức độ văn hóa ở thế giới này nằm ở đâu đó giữa thời Trung Cổ và thời kỳ cận đại. Sự phân tích của Samuel vừa mang sự khinh thường của một người đến từ thế giới khác, vừa mang sự phân tích lạnh lùng của một người lính.

Chiến tranh hiện đại không giống như các cuộc chiến trong thời kỳ Chiến Quốc của Nhật Bản, khi họ phải thiết lập vị trí trên chiến trường và chiến đấu theo đội hình. Sự ra đời của hỏa khí đã thay đổi tính chất của chiến tranh. Hay đúng hơn, sự tiến bộ của hỏa khí đã làm điều đó.

Súng hỏa mai được sử dụng trong thời kỳ Chiến Quốc tách rời thuốc súng khỏi đạn, điều đó có nghĩa là cung, kiếm và giáo vẫn có chỗ đứng trên chiến trường. Sau cùng, những vũ khí điểm hỏa bằng đá lửa (flintlock) như súng hỏa mai tốn thời gian và công sức để nạp đạn. Người ta phải sử dụng một chiếc gậy gọi là que thông nòng (pitcher stick) để đưa thuốc súng vào nòng súng và đưa viên đạn vào sau đó. Trên hết, chất lượng của cả kim loại và thuốc súng đều kém, và tầm bắn hiệu quả của súng tương đối hạn chế. Dù vậy, chúng có tầm bắn lớn hơn cung tên, và tiếng nổ đanh thép của thuốc súng đã làm rung chuyển và làm nản lòng kẻ thù. Kết quả là súng hỏa mai sớm trở nên khá phổ biến.

Một yếu tố chính đằng sau đó là súng dễ sử dụng hơn nhiều so với kiếm hay giáo.

Vào thời điểm đó, các chiến binh và hiệp sĩ là những người lính chuyên nghiệp, nhưng phần lớn quân đội được tạo thành từ những người lính nghĩa vụ.

Hầu hết những người lính nghĩa vụ đó làm những công việc không liên quan đến các vấn đề quân sự. Việc dạy họ cách sử dụng kiếm hay lắp mũi tên vào cung là rất khó khăn. Tuy nhiên, việc xử lý súng lại đơn giản hơn nhiều khi so sánh. Tất cả những gì một người phải làm là nạp đạn và sau đó bóp cò.

Tất nhiên, bất cứ ai cũng có thể nhắm và bắn, nhưng việc bắn trúng mục tiêu lại là một chuyện hoàn toàn khác. Việc bắn chính xác vào một mục tiêu không hề đơn giản như vẻ ngoài của nó. Tuy nhiên, sự dễ dàng của việc bóp cò bằng cách nào đó đã làm nhẹ bớt gánh nặng tội lỗi khi giết chết kẻ thù, và việc huấn luyện binh lính sử dụng súng dễ dàng hơn việc dạy họ sử dụng cung và kiếm.

Nhưng lợi ích lớn nhất là súng có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai, không phân biệt giới tính hay thể chất. Việc sử dụng kiếm hay cung đòi hỏi sức mạnh cơ bắp, vì vậy những người có thể hình lớn hơn sẽ có lợi thế. Những người đàn ông như Samuel được ưa chuộng hơn phụ nữ. Đây không hẳn là vấn đề phân biệt đối xử, mà là vấn đề về sự khác biệt thể chất cơ bản giữa nam và nữ. Tuy nhiên, không có điều nào trong số đó là vấn đề đối với súng. Miễn là một người có thể nhắm và bắn, đó là tất cả những gì cần thiết. Một đứa trẻ sẽ gặp khó khăn để giết một người đàn ông bằng kiếm hoặc cung, nhưng ngay cả một đứa trẻ sơ sinh cũng có thể giết một người lớn bằng hỏa khí.

Bất chấp tính độc đáo của súng trong số các loại vũ khí, lịch sử thế giới tiết lộ rằng kể từ khi hỏa khí được phát minh, các quốc gia trên thế giới đã đối xử với nó giống như cung hoặc kiếm. Điều này là do súng nạp đạn từ họng súng (muzzleloader) thời đó được chế tạo theo cách mà sau khi bắn phát đầu tiên, người ta phải làm sạch nòng súng rồi nạp thêm thuốc súng và đạn để bắn lại. Chưa kể, súng rất đắt tiền, và thuốc súng cũng như đạn dược cũng tốn thời gian và kinh phí để sản xuất.

Ở Hoa Kỳ ngày nay, người ta có thể mua một viên đạn sản xuất hàng loạt với giá chỉ một đô la. Nhưng trước Cách mạng Công nghiệp, mỗi viên đạn phải được làm bằng tay trong một xưởng thủ công. Súng không thể là vũ khí chính như ngày nay.

Thêm vào đó, chiến lược của họ là thu hẹp khoảng cách bằng cách sử dụng các vũ khí tầm xa như cung và súng, rồi sau đó quyết định trận chiến thông qua các cuộc tấn công cận chiến.

Đó chính là bối cảnh đằng sau sự phát minh ra lưỡi lê. Nhưng tất cả đã thay đổi khi một thiên tài xuất hiện. Vào giữa thế kỷ XIX, Alfred Bernhard Nobel đã phát minh ra một bộ kích nổ có thể đánh lửa được gọi là thuốc nổ dynamite. Điều này dẫn đến sự phát minh ra vỏ đạn (cartridge), một dạng đạn dược thống nhất đầu đạn và thuốc súng. Điều này giúp người ta có thể bắn và nạp đạn một cách dễ dàng. Sau khi trải qua quá nhiều quá trình phát triển và cải tiến, súng đã có một lợi thế áp đảo so với kiếm và cung.

Vị giáo viên đó thực sự rất thích nói về Chiến tranh Giành độc lập, Miền Tây hoang dã và thời kỳ Chiến Quốc của Nhật Bản.

Vào thời điểm đó, những bài học của giáo viên đó cảm thấy thật nhàm chán, nhưng bây giờ Samuel ước gì mình đã lắng nghe nghiêm túc hơn.

Thật mỉa mai. Chỉ sau khi bị triệu hồi đến đây, mình mới thấy mình đã may mắn như thế nào vào lúc đó. Có thời gian rảnh rỗi để học tập...

Những thứ anh học được khi đó đã giúp anh sống sót sau khi bị triệu hồi. Những kiến thức cơ bản mà anh có được ở trường tiểu học và trung học cơ sở đặc biệt thiết thực.

Cảm giác về một ai đó đang tiến lại gần từ phía sau đã kéo Samuel ra khỏi những suy ngẫm của mình.

"Việc kiểm tra đã xong chưa?" Samuel hỏi bóng người đó mà không quay đầu lại nhìn. Đó là một trong những đồng đội của anh từ những ngày đen tối ở Afghanistan. Samuel sẽ nhận ra sự hiện diện của anh ta một cách dễ dàng.

"Báo cáo Đại úy Kinkaid, đã xong! Không có vấn đề gì cản trở chúng ta cả! Chúng ta có thể xuất phát bất cứ khi nào ngài ra lệnh."

Samuel gật đầu. "Đã hiểu. Nhưng chúng ta chưa thể di chuyển ngay được."

Người đàn ông phía sau anh hơi dao động. "Chúng ta vẫn chưa nhận được tín hiệu sao?" anh ta hỏi.

"Chưa, vẫn chưa," Samuel trả lời, nhìn chằm chằm về hướng Galatia.

Đây là cơ hội hoàn hảo, nhưng câu hỏi là khi nào chúng ta mới nhận được tín hiệu để tiến vào.

Samuel đã nhận được lệnh tấn công dinh thự của Bá tước Winzer vài ngày trước. Anh và đơn vị của mình đang thực hiện công việc lính đánh thuê ở các vương quốc phía Nam, nên họ được chọn cho nhiệm vụ này vì họ ở gần thành phố. Vài ngày sau, họ tập hợp lại với quân tiếp viện của Tổ Chức và phác thảo kế hoạch tấn công cho đêm nay.

Chúng ta đã có tất cả trang thiết bị, và chúng ta may mắn có được một đêm tối tăm như thế này. Và ngay khi chúng ta chuẩn bị sẵn sàng để tiến lên, chúng ta lại nhận được lệnh tiếp tục chờ đợi.

Nói tóm lại, đó là một sự trêu ngươi.

Nhưng nếu, giống như cô ấy nói, mệnh lệnh này đến từ ông ta, thì thực sự chúng ta không thể làm gì khác được.

Hình ảnh một người phụ nữ mắt xanh với mái tóc bạc dài lóe lên trong tâm trí Samuel. Cô ấy là một người phụ nữ rất xinh đẹp, nhưng không phải là người mà Samuel muốn dính dáng tới. Anh là một chiến binh thực thụ và thuần khiết, luôn chiến đấu trên tiền tuyến. Anh tự hào về bản thân và khả năng sống sót qua chiến tranh của mình. Người phụ nữ đó hoàn toàn ngược lại với anh. Vai trò của cô ta là ẩn mình trong bóng tối, liên tục đe dọa và tống tiền mọi người. Đó là công việc của cô ta với tư cách là một sĩ quan tình báo, nhưng dù vậy, Samuel vẫn muốn dính dáng đến cô ta ít nhất có thể.

b888387f-bf43-45b9-b854-eed6a62d83b5.jpg

Thật không may cho anh, anh không có sự lựa chọn nào khác. Cô ta là cấp trên của anh trong Tổ Chức. Và Samuel cũng không phải là một thành viên cấp thấp. Với tư cách là sĩ quan cao cấp của Lũ Chó Săn, anh có thẩm quyền cao nhất với tư cách là chỉ huy thực địa. Anh phụ trách cả đơn vị cá nhân của mình và một lực lượng dự bị khoảng một trăm người. Cô ta cao hơn Samuel hai cấp. Nếu Samuel là đại tá, thì cô ta sẽ là thiếu tướng. Trên thực tế, cô ta chính là tổng tư lệnh của Lũ Chó Săn. Nhưng cô ta luôn lùi lại phía sau, thao túng mọi người từ trong bóng tối, và anh không thể ép mình thích cô ta cho được.

Tuy nhiên, lần này, thay vì lùi lại phía sau như mọi khi, cô ta đã đích thân can thiệp vào chiến dịch này. Chỉ riêng sự thật đó thôi đã cảnh báo Samuel rằng có điều gì đó khác thường về tình huống này.

Phải, có gì đó không ổn ở đây.

Cô ta đã một mình thâm nhập vào Galatia. Miễn là cô ta vào được bên trong những bức tường thành một cách an toàn, cô ta có thể quyết định chiến dịch này sẽ đi theo hướng nào.

Tất cả những điều này đều dựa trên giả định rằng người đó thực sự đã trở lại.

Khoảng một năm trước, một tin đồn đã lan truyền trong Tổ Chức, một tin đồn về một người đàn ông nhất định. Bản thân Samuel nghi ngờ tính xác thực của nó, vì nó quá đỗi phi lý.

Sự trở lại của một vị anh hùng...

Samuel chưa bao giờ nghe nói về người đàn ông trong tin đồn đó. Ông ta đã biến mất vào kẽ hở của không-thời gian từ năm mươi năm trước. Nhưng những thành tựu của ông ta không hề phai mờ theo thời gian đã trôi qua. Ngược lại, chúng càng trở nên sống động hơn. Suy cho cùng, ông ta là một nhân vật then chốt trong việc thành lập Tổ Chức.

Nhưng dù thế nào đi nữa, điều này có nghĩa là tay chân của Samuel đã bị trói buộc.

Chúng ta sẽ nhận được lệnh tiến lên, hay họ sẽ bảo chúng ta rằng nó đã bị hủy bỏ? Mình chỉ có thể hy vọng rằng chúng ta sẽ không có thêm bất kỳ sự bất thường nào nữa trong chiến dịch này.

Samuel thầm cầu nguyện, ngước nhìn bầu trời tối đen được bao phủ bởi một bức màn mây dày đặc che khuất mặt trăng và những vì sao.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!