Chương 7: Các Thương Nhân
Hai thương nhân Bell và Rango đứng ngẩn người trước bức tường thành, mắt tròn xoe, miệng há hốc.
Có lẽ họ đang bàn bạc gì đó với nhóm hộ tống, trông giống mấy mạo hiểm giả, thì tôi cất tiếng gọi.
“Các vị trông giống thương nhân. Ta là Van Nei Fertio, lãnh chúa ngôi làng này. Xin cho biết tên các vị và tên thương hội các vị trực thuộc. Còn nhóm hộ tống, ta cũng muốn biết chức danh và tên.”
Đám thương nhân và mạo hiểm giả ngó nhau một lượt, xì xào thêm chút nữa.
Rồi người thương nhân trẻ đứng phía trước lên tiếng.
“T-Tôi là Bell, thuộc Thương Hội Mary. Đây là em trai tôi, Rango. Người hộ vệ của chúng tôi là Ayer, trưởng nhóm mạo hiểm giả hạng B, Thương Bạc.”
Rango cúi đầu chào, còn người đàn ông hói đầu tên Ayer thì giơ cây thương bạc của mình.
Tôi liếc sang Ortho đứng cạnh.
“Biết họ chứ?”
Anh gật đầu.
“Biết. Tụi tôi gặp nhau ở hội mạo hiểm giả suốt, còn từng đi nhậu chung nữa.”
Nghe thế, tôi hài lòng quay lại hướng Bell.
“Các vị được phép vào. Chào mừng đến với làng của ta!”
Dân làng liền hạ cầu, mở cửa lớn.
Tôi giữ khoảng cách quan sát một lúc rồi nhanh chóng rời tháp, đi ra cổng trước.
Bell và đoàn người lái xe vào với vẻ mặt vẫn còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Tôi đón họ ngay khi họ vào đến làng.
Người đầu tiên ra chào là Ronda.
“Chúng tôi đợi các anh lâu rồi. Cảm ơn đã đến,” ông nói, còn phía sau dân làng thì vây quanh xe hàng với vẻ phấn khích.
Lâu rồi mới có chuyến hàng mới đến, ai nấy đều mừng rỡ.
Bell thở phào, gương mặt căng cứng cũng dịu xuống, nở thành một nụ cười.
“Xin chào! Xin lỗi chuyện lúc nãy nhé. Để tôi giới thiệu lại. Tôi là Van,” tôi cười nói.
Bell cau mày, cúi chào thật sâu rồi nhìn thẳng tôi.
“Tôi là Bell, rất hân hạnh được gặp ngài. Không biết tôi có đường đột không, nhưng… ngài là cậu út nhà Fertio, Cậu Van đúng không ạ?”
Tôi nghiêng đầu.
“Đúng rồi. Nhưng sao anh biết?”
Nhà tôi nổi tiếng thì đúng, nhưng tôi tự biết mình chẳng có “tiếng tăm” gì đáng kể.
“Thì… dạo gần đây cậu là đề tài bàn tán khắp nơi đó. Ai cũng hỏi cậu thần đồng nhà Fertio biến đi đâu rồi.”
Tôi chớp mắt liên tục, miệng cứng đờ.
—-
Bell
Trên đường đến đây, tôi quay sang Rango than thở:
“Khổ thật… Làng Rìa nằm chỗ quái nào giữa đồng không mông quạnh. Có mang gia vị hay nhu yếu phẩm tới bán thì cũng chẳng lời được bao nhiêu.”
Tôi đang nói về một ngôi làng vô danh sát biên giới, chúng tôi gọi nó là “Làng Rìa”.
“Với lại tụi mình chẳng có gì mua lại từ đó cả. Chuyến này kiểu gì cũng lỗ nặng.”
Rango cũng góp lời.
Thường thì mỗi vòng buôn bán bọn tôi vẫn kiếm được chút đỉnh.
Đi từ thành lớn nhất → thành lớn nhì → mấy thị trấn nhỏ → quay lại thành nhì → rồi về thành nhất → rồi về nhà.
Đó là lịch trình cố định, mất tầm 1 tháng.
Mang hàng xịn từ thành lớn nhất xuống thành thứ hai là thu lời dễ nhất.
Tới đó, tụi tôi mua thêm quần áo, gia vị, đá quý bán tốt ở các thị trấn.
Qua thị trấn thì gom gia vị rẻ, đồ sinh hoạt rẻ, chạy vòng vòng, nói chung vẫn ổn.
Riêng Làng Rìa thì… cùng lắm chỉ mua được gỗ hoặc da quái vật.
Thứ thì nặng, lời thì chẳng bao nhiêu, nên từ chối suốt.
Lãi mỗi chuyến chỉ chừng 5–6 đồng vàng.
Mà nửa số đó lại bị thương hội lấy, rồi nộp thuế cho hầu tước… cuối cùng hai anh em chúng tôi được 2–3 đồng là cùng.
Xài chút tiền cá nhân nữa là coi như còn chưa tới hai đồng.
Phần còn lại thì để mua thêm hàng ngon cho vòng buôn sau, sửa xe, chăm ngựa.
Tháng nào để dành được một đồng vàng đã là phúc đức ông bà rồi.
Nhưng chuyến này… xe hỏng phải sửa, rồi tiền ăn ở 1 tuần, thuê mạo hiểm giả bảo vệ.
Chưa kể xe còn lật nghiêng, làm hỏng đống hàng, bán chẳng được bao nhiêu.
Lỗ chổng vó.
Vậy nên lần này bọn tôi mới liều mà chất đầy hàng, gia vị, rượu, nhu yếu phẩm, đến hai cái xe.
Tính thử vận may ở mấy thị trấn khác luôn cho rồi.
Thế mà vừa đến gần Làng Rìa thì…
“Ê, kia là Làng Rìa à? Nhìn lớn như cái thành ấy,” Ayer nói, còn tôi chỉ biết đáp cho có lệ:
“Ờ… tôi cũng thấy vậy.”
Làng này ngày xưa toàn mấy túp lều nát, còn nghèo hơn mấy làng xa xôi khác.
Người ta còn gọi nó là “làng tận thế” vì độ xập xệ.
Vậy mà bây giờ trước mắt chúng tôi là tường thành cao bằng đá, mỗi bên có tháp quan sát cao ba tầng.
Thứ vật liệu dùng để xây… tôi chẳng nhận ra là gì, nhưng chắc chắn không phải gỗ hay đá bình thường.
Trên đỉnh tháp là mấy cái nỏ tháp to tướng.
Cửa chính có cầu kéo.
Cả một cái hào luôn!
“Hay tụi mình đi lộn đường rồi?”
Rango hỏi.
Tôi chẳng biết trả lời sao.
Tôi chắc chắn tụi tôi không lạc, nhưng… nhìn vậy thì đúng là khó tin đây là Làng Rìa thật.
Xe vẫn lăn bánh, đến khi dừng ngay trước một con hào sâu hoắm.
Bức tường thì mới tinh nhưng chắc chắn vô cùng.
Cả nơi này trông chẳng khác gì một pháo đài nhỏ.
Trên tường thành, những gương mặt quen thuộc của dân làng đang đứng gác cạnh những khẩu nỏ chiến khổng lồ.
Nhìn kỹ thì thấy toàn bộ nỏ đều được lắp thêm khiên chắn phía trước.
Ra là vậy, bảo sao trông thiết kế của chúng lạ mắt đến thế.
Khi chúng tôi còn đang sững sờ trước hệ thống phòng thủ của ngôi làng, một giọng nói từ trên cao vọng xuống.
Giọng của cậu bé lãnh chúa trẻ nghe còn non lắm.
Nếu chỉ nghe qua, khó mà nghĩ đây là một đứa nhóc chưa đến 10 tuổi.
Nghe Rango lắp bắp, tôi giật mình quay lại.
Ayer và những người còn lại cũng gật gù.
“Chỗ hoạt động của bọn tôi là thành phố lớn, nên thi thoảng trông thấy nó. Nhóc đó lúc nào cũng đi tuần khắp phố. Nổi tiếng lắm, nói chuyện với ai cũng dừng lại bắt chuyện.”
“Ra vậy.”
Tôi có nghe đồn vài lần.
Hai anh em chúng tôi mỗi lần tới thành phố cũng chỉ ở đó được tầm 1 tuần, nên chưa bao giờ gặp cậu bé đó ngoài đời.
Nhưng khi nhìn kỹ, đúng là cậu ta chỉ là một đứa trẻ còn chưa quá 10 tuổi.
Đã là quý tộc thì chuyện bị đồn thổi là bình thường, nhưng chuyện về cậu bé thứ 4 này thì nhiều vô kể.
Người ta bảo cậu ta là thiên tài trong các thiên tài:
Chỉ hỏi vài câu là nắm bắt được việc kinh doanh, đưa ra lời khuyên chính xác về loại hàng nên bán để tăng lợi nhuận.
Nói chuyện với dân thường thì tử tế bất ngờ so với tuổi.
Có lần một đứa bé suýt bị bán làm nô lệ, chính cậu ta bỏ tiền túi ra để cứu.
Tin đồn thì thường phóng đại, nên tôi cũng chẳng tin hoàn toàn.
Nhưng khi nghe nói cậu ta rời thành phố, tôi lại thấy tò mò.
Người ta bảo cậu bị “đày” về cái làng heo hút này làm lãnh chúa, nhưng chẳng hiểu vì sao nơi này vẫn được bơm viện trợ đều đều.
Tôi có vài suy đoán… nhưng đoán mò cũng chẳng để làm gì.
Tôi hướng về cậu bé và tự giới thiệu.
Lời cho phép được đưa ra rất nhanh.
Cây cầu treo được hạ xuống mượt như chưa từng gặp trục trặc, nối liền con đường với làng.
Cánh cổng lớn mở rộng, và thứ hiện ra trước mắt chẳng giống chút nào với ký ức của tôi.
Hai dãy nhà kiên cố, ngay hàng thẳng lối, trải dài theo trục chính.
Chẳng biết chúng được làm từ vật liệu gì nhưng nhìn thôi đã thấy chắc chắn.
Dù mặt đất vẫn chỉ là đất nện, toàn bộ ngôi làng trông rành rành như một nơi hoàn toàn khác.
Mãi đến khi nhìn những người đang tiến lại gần, tôi mới chắc chắn đây đúng là nơi cần đến.
Ronda, trưởng làng bước ra đón đầu tiên. “
Ngay lập tức dân làng ùa ra vây quanh xe hàng.
Một tháng họ mới gặp thương nhân một lần, bảo sao mà vui như hội.
Tôi thực sự thở phào khi thấy không khí nơi đây vẫn thân thiện như cũ.
Khuôn mặt căng thẳng lúc trước của tôi dãn ra thành nụ cười.
Cậu bé nói với nụ cười tươi rói.
Tôi đáp lễ.
Chỉ sau vài câu chuyện, tôi hiểu ngay:
Đứa trẻ tên Van này đúng là thiên tài thật, chẳng liên quan gì đến việc nó là quý tộc.
Dân làng cũng nói vậy.
Mọi thay đổi nơi đây đều là công lao của Cậu Van và những người đi cùng.
Nghe khó tin, nhưng họ chẳng có lý do gì để nói dối, và nhìn vẻ mặt họ thì tôi biết là thật.
Họ kể rằng làng từng bị bọn cướp tấn công, và chính Cậu Van đã cứu họ.
Cậu bé đã dựng một bức tường thành kiên cố, xây nhà mới cho mọi người, và tự tay thiết kế rồi chế tạo những khẩu nỏ chiến khổng lồ kia.
Hóa ra tin đồn không hề quá lời.
Thế là, sự hứng thú trong tôi đối với đứa trẻ này càng tăng vọt.
“Liệu chúng tôi có bán được mấy phần xác thằn lằn bọc giáp không nhỉ?”
Van hỏi.
Tôi gật đầu cái rụp.
“Đương nhiên rồi! Cậu hạ được cả thằn lằn bọc giáp á? Ghê thật! Đám đó mạnh lắm, nhiều mạo hiểm giả còn chẳng thích đụng vào!”
Nguồn thu ngoài mong đợi!
Tôi chưa từng nghĩ mình có thể mua được nguyên liệu quý như vậy ở cái làng tận cùng biên giới này.
Hai anh em tôi nắm tay nhau, suýt thì nhảy cẫng lên.
Cứ tưởng chuyến này lỗ nặng, ai ngờ lại tính nhầm to.
Cảm ơn trời đất!
Cười như mở hội, hai anh em theo Cậu Van đến kho vật liệu.
Đó là một tòa nhà lớn, hai tầng theo như nhìn từ ngoài, nằm sát bên phải cổng.
Có vẻ nó được thiết kế để chắn nắng, gió và mưa khỏi nguyên liệu?
Ý tưởng quá tuyệt.
Tôi bước vào và chết lặng.
“Ha… ha ha… đừng bảo là cậu gặp bầy thằn lằn cao 2-30 thước đấy nhé?”
Rango méo mặt nói.
Nghe thì vô lý hết sức, nhưng cảnh tượng trước mắt khiến tôi không cãi nổi.
Hóa ra bên trong không phải hai tầng.
Chỉ có một tầng duy nhất với trần cao đến mức vô lý.
Bên trong, da thằn lằn bọc giáp chất thành từng ụ cao gần chạm trần.
Rồi còn núi móng, núi nanh, núi xương, núi lõi ma thuật, tất cả chất đống như đá.
Cậu Van quay lại cười:
“À, bọn tôi hạ 40 con thằn lằn bọc giáp, rồi bắt luôn 30 tên cướp. Tôi đang định nhờ các anh mang cả nguyên liệu lẫn bọn cướp đi luôn. Thế nào? À, bên tôi lo phần vận chuyển.”
“T-Trời… số lượng này… Nếu cho tôi chút thời gian, khoảng 1 tháng, không, chắc ngắn hơn, tôi có thể nhờ thương hội điều người. Cậu đợi được chứ?”
“Được thôi,” Van gật đầu.
“Hay… chúng tôi ăn bớt thịt cho đỡ chật?”
Đó là lúc tôi nhận ra, với từng này nguyên liệu, lượng thịt tương ứng chắc phải rơi vào tầm 10 đến 20.000 cân.
Một ngôi làng chỉ có 1, 200 người thì chẳng đời nào ăn hết được chỗ thịt đó trước khi nó hỏng.
“Thịt á? Ờm… nếu được, cậu cho tôi đem bán ở thị trấn bên cạnh nhé? Mà… nếu cậu bớt chút thì còn tốt nữa.”
Cậu Van nhướng mày.
“Thị trấn kế bên? Họ có đủ tiền mua thịt thằn lằn bọc giáp không vậy?”
Cậu ấy không nói kiểu khinh thường.
Nghe thật lòng tò mò hơn.
Tôi cố nặn ra nụ cười, giơ một tay lên.
“Thật ra… không có bao nhiêu đâu. Nhưng sau kỳ thu thuế năm nay, họ chẳng còn gì để tích trữ, nên nhờ tôi tìm giúp chút thực phẩm…”
Tôi đang định mang thịt sang đó phát không luôn.
Nếu sau này bán hết đống nguyên liệu thằn lằn bọc giáp kia, lợi nhuận thừa sức bù đắp.
Cậu Van nhìn sắc mặt tôi một chút rồi lắc đầu.
“Chỗ thịt này ít nhất một nửa cũng hỏng thôi. Anh cứ lấy miễn phí đi. Với lại… bán nó chắc anh cũng chẳng lời được bao nhiêu đâu, đúng không?”
Cậu mỉm cười, khiến tôi nghẹn cả họng.
“Đa tạ cậu. Vậy đổi lại, tôi sẽ trả đầy đủ cho bọn cướp. Bốn bạc lớn một tên.”
Tính ra tổng cộng 12 vàng.
Với thương nhân chúng tôi, giá ấy quá vô lý.
Đưa bọn cướp về từ vùng biên này, muốn có lời thì mỗi tên tối đa chỉ bán được một vàng.
Giới quý tộc chắc không hiểu, nhưng với chúng tôi, đó là cách thể hiện thành ý.
Cậu Van gật đầu, nụ cười càng rộng.
“Cảm ơn nhiều! À, với lại nếu anh chịu quay lại sớm, tôi đảm bảo anh không thiệt đâu. Ví dụ nhé… chúng tôi sẽ có sẵn vũ khí chất lượng cao để anh mua.”
Tôi nghiêng đầu.
“Ý cậu là ngoài thợ thiết kế và thợ mộc giỏi, ở đây còn có cả thợ rèn hả?”
Tôi ngỡ ngàng, còn Cậu Van thì cười tươi, mắt cong lại đầy phấn khích.
Thanh kiếm… thật sự tuyệt vời.
Dù mang hoa văn trang trí, nó vẫn toát ra khí thế uy nghi đúng chất binh khí.
Tôi không rành mấy thứ này, nhưng chỉ nhìn thôi cũng biết giá trị nghệ thuật của nó là không tưởng.
“Anh thấy sao? Nó đáng giá bao nhiêu?”
Tôi đưa kiếm cho Ayer chuyên môn thật sự.
Anh ta nhìn trân trân không nói nổi câu nào, đến khi Ortho lên tiếng.
“Đây. Một mảng da thằn lằn bọc giáp.”
Ortho cười, đưa tấm da cứng như thép cho Ayer.
Ayer rút kiếm của mình ra, chém một nhát, chỉ để lại một vệt cực nhỏ.
Tôi thì kinh ngạc, còn Ayer chỉ gật đầu.
“Đúng là da thằn lằn bọc giáp. Tôi thử thanh kiếm này được chứ?”
“Cứ tự nhiên,” Cậu Van nói như thể chẳng có gì to tát.
Dù hoài nghi, Ayer vẫn giơ thanh trường kiếm tuyệt đẹp lên, đặt vào tấm da.
Anh ta hạ xuống, rồi giật ra.
“C… Cái gì vậy?! Không thể nào!”
Mắt anh ta trợn tròn.
Tôi nhìn lại tấm da và thấy một đường cắt sạch bong.
“Cảm giác như cắt thịt gà vậy!”
“Điên thật, đúng không?”
Ortho cười khoái trá.
Anh ta chỉ vào thanh kiếm đeo bên hông, trông cũng có khí chất tương tự.
“Đặt làm riêng, giá 5 vàng. Tôi yêu cầu chiều dài và độ rộng vừa tay, dễ vung. Tin được không? Làm bằng sắt đấy.”
“Năm vàng?! Rẻ quá mức! Tôi phải mua một cây! Có giáo không?!”
Ayer hớn hở hỏi.
“Tôi tin mạng sống mình cho cây kiếm này đấy. Nếu muốn đặt, nhớ nghĩ kỹ kích thước và trọng lượng. À mà nhớ luôn: nếu muốn nó phù hợp để đỡ đòn, thì phần đó đừng quá sắc.”
Ayer nhìn xuống, xoa cằm.
Tôi còn thấy anh ta lẩm bẩm:
“R-Ra vậy… sắc quá cũng phiền…”
Tôi liếc Ayer, rồi nói:
“Đây đúng là một món vũ khí phi thường. Tôi sẽ mua ngay với giá ngài đưa ra. Chỉ là… hiện giờ tôi không thể mang hết mọi thứ về. Thành thật xin lỗi—”
“Không sao. Anh quay lại ngày khác là được.”
“Thật cảm kích,” tôi cúi đầu với Ortho.
Sau đó, chúng tôi dạo một vòng làng và bán gia vị, rượu cùng vài nhu yếu phẩm cho Cậu Van.
Cảm giác như bên tôi lời nhiều hơn, nhất là vì chúng tôi còn được chỗ thịt thằn lằn và tôi thì được tặng riêng một thanh đoản kiếm.
“Anh sướng thật đó, anh trai…”
Tôi cũng không thể chỉ mình dùng kiếm, nên mua thêm một cây cho Rango với giá ba vàng.
Nó ôm cây kiếm do Van làm như trẻ con được đồ chơi mới.
Đã 18 tuổi rồi mà… mong nó bớt lại chút.
Tôi thầm cười.
Tôi nướng thử thịt thằn lằn và cắn một miếng, để rồi choáng thêm lần nữa trong ngày.
Tới lúc nào đó, tôi đã bị cái làng này cuốn lấy.
Tôi cần nghĩ nghiêm túc chuyện tương lai.
Về đến nhà, nhất định phải bàn với chủ thương hội.
Biết đâu, mở hẳn một cửa hàng ở đây lại là cú lội ngược dòng của chúng tôi.
Nhưng trước hết, phải có thương nhân qua lại thường xuyên.
“Tôi tính về thương lượng với chủ tịch, rồi gom một đoàn xe cỡ trung. Cậu thấy sao, Rango?”
“Nghe ổn. Hoặc mình chia thành hai đội buôn, mỗi đội ba xe, rồi thay nhau tới đây 2 tuần một lần.”
“Ừ… trong trường hợp đó, có thể hẹn gặp ở một làng hoặc thị trấn dọc đường.”
Hai anh em nhìn nhau và cùng nở nụ cười.
“Từ giờ chắc bận lắm đây.”
“Ờ. Hóng luôn.”
—-
Van
Chúng tôi cùng ăn tối.
Bell và Rango vui vẻ ngấu nghiến thịt thằn lằn giáp như thể đó là đặc sản thượng hạng.
Hai người vừa ăn vừa hỏi tôi về kế hoạch sắp tới, và tôi cũng phác họa cho họ nghe những việc sẽ làm với ngôi làng.
Nhìn biểu cảm háo hức trên mặt họ, tôi ngầm xem đó là tín hiệu tốt.
Họ hỏi tôi muốn 1 tháng ghé làng một chuyến như trước hay chuyển sang hai lần.
Tôi bảo cứ hai lần 1 tháng đi, càng nhiều càng tốt.
Gia vị và rượu ngon vào đều đặn thì dân làng mới vui, ăn uống đầy đủ thì làm việc mới hăng, tinh thần mới cao.
Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất.
Nhưng khi tôi nhờ họ quảng bá vũ khí do tôi làm ra, cả hai lập tức xụ mặt.
Thì ra hai anh em đã âm thầm tính chuyện “ôm hàng” độc quyền.
Hai người thật ngây thơ hết chỗ nói.
Nếu cứ bán dọc tuyến đường cũ, sớm muộn gì người ta cũng lần ra nguồn gốc.
Cách ngon nhất là quảng bá ngay từ đầu, rồi kiếm lời bằng số lượng bán ra sau đó.
Nghe tôi nói vậy, mắt cả hai sáng rực như vừa nhìn thấy vàng.
“Làm sao cơ?!”
“Dễ mà. Mở một cửa hàng ngay tại làng này rồi bán từ đây. Thuê thêm người trông coi cửa hàng nữa là ổn.”
Hai anh em nhìn nhau cười toe.
Cuối cùng chúng tôi thống nhất để Bell ở lại mở tiệm cho đến khi mọi thứ vào guồng.
Để ăn mừng, tôi xây hẳn cho cậu ta một căn nhà, giá hữu nghị 5 đồng vàng.
Như vậy chúng tôi sẽ không phải thương lượng với nhiều thương nhân khác nhau nữa.
Nói thật, đây là thỏa thuận đôi bên đều có lợi.
Bell và Rango có thu nhập ổn định cùng một cửa hàng riêng.
Tôi thì tiết kiệm được thời gian, và làng lại có cửa hàng đầu tiên.
Một bước tiến lớn.
Trong tiếng trò chuyện rôm rả, buổi bàn bạc kết thúc.
Sáng hôm sau, Rango nói sẽ về cùng Ayer và nhóm của anh ta, rồi tất bật chuẩn bị.
Nghe cách cậu ta nói, cứ như hai vợ chồng giận nhau sau tuần trăng mật, nhưng thật chất đó chỉ là chuyện làm ăn.
Muốn tối ưu lợi nhuận thì phải nhanh.
Rango cần quay về công ty càng sớm càng tốt để thuyết phục họ gom vật liệu và tăng nhân lực.
Để gây áp lực, cậu ta mang theo thanh kiếm tôi rèn, một tấm da thằn lằn giáp và vài lõi ma lực.
Nếu thuận lợi, lần sau đến làng, sau lưng Rango sẽ là cả đội thương nhân hùng hậu.
Trong nụ cười tươi rói, Rango mua một thanh kiếm rồi lên đường.
À, để tránh bị ghi công quá nhiều, tôi còn nhờ Rango mang một bức thư gửi đến Murcia.
Có đóng ấn của tôi nên chắc ổn.
Cậu ta hỏi tại sao tôi giấu nhẹm thành tích đến tận phút chót, nhưng tôi chỉ lảng sang chuyện khác.
Tiễn mọi người xong, tôi quay sang Bell.
“Được rồi, giờ thì xây cửa hàng cho cậu.”
“H–Hả? Ngay bây giờ luôn à?”
Bell tròn mắt.
Tôi phẩy tay gọi cậu ta lại gần.
“Tôi nghĩ nên quay mặt ra đường chính,” tôi nói, chỉ tay.
“Ở gần cổng làng thì tiện hơn.”
Bell cũng chỉ một chỗ đất trống ngay cạnh cổng.
“Chỗ đó hợp đấy. Từ cổng vào là thấy cửa hàng ngay, khách cũng dễ tìm.”
“Vậy đặt ở đó luôn. Giờ đến phần bố cục bên trong. Cửa chính đặt ở đây… quầy tính tiền để phía trước thì sao?”
“Ờ… được, miễn là tôi quan sát được toàn bộ cửa hàng. Tôi cũng muốn làm cách nào đó để trưng bày hàng hóa.”
“Vậy cửa hàng kiểu tạp hóa thì hợp hơn cửa hàng thực phẩm. Mang chút cảm giác như tiệm đồ nhập khẩu cũng được. Không cần dàn đầy sản phẩm, để vài món làm điểm nhấn sẽ tạo cảm giác ‘cao cấp’. Muốn treo các loại kiếm lên tường không? Mỗi loại một món?”
“Hả? À… ừm, chắc cũng được. Nhưng tôi còn phải nghĩ chỗ để kho hàng.”
“Vậy làm thêm tầng hầm. Tôi xây cho cậu nhà hai tầng là đủ chỗ rồi.”
Chúng tôi tiếp tục bàn bạc, và chỉ trong chốc lát đã xong bản thiết kế.
Nếu sau này Bell thấy phần nào không ổn, tôi sửa lại miễn phí một lần cũng được.
Nhưng vì có tầng hầm nên tôi gọi Esparda đến hỗ trợ.
Làm lại toàn bộ sẽ hơi cực.
Khamsin và Till mang các khối gỗ tới khu đất trống.
Tôi nhắm mắt hình dung cấu trúc, mặc kệ Bell đang bối rối nhìn sau lưng.
Khi đã rõ ràng trong đầu, tôi vận khí, chỉnh sửa hình dạng từng khối gỗ.
“Hả?! C–Cái gì vậy?!”
Tôi lờ tiếng hét sửng sốt và tiếp tục.
Đầu tiên dựng cột.
Esparda dùng ma pháp thổ để đào đất tạo hố.
Chỉ cần một khoảng đủ rộng là tôi lo được phần còn lại.
Tôi dựng sàn, dựng tường, lắp trần, rồi kết nối mọi thứ vào trụ.
Tiếp theo, tầng hầm.
Tôi không biết mình làm lúc nào, chỉ biết khi nhìn lại, cả không gian đã hoàn chỉnh.
Tôi đặt 4 trụ lớn chống đỡ.
Dù có chúng thì tầng hầm vẫn rộng thênh thang.
Bell vẫn còn lạc trong tầng hầm với đôi mắt đỏ hoe vì ngạc nhiên, trong khi tôi xây tầng một và hai.
Vì đã quen tay từ lúc xây nhà dân làng, tôi hoàn thành nhà Bell rất nhanh.
Tầng hầm mất khoảng 1 giờ, hai tầng phía trên thì 15 phút.
Khi Bell bước lên khỏi tầng hầm, cậu ta sững sờ thấy căn nhà đã hoàn chỉnh.
Cậu há hốc miệng nhìn tôi, nhưng tôi chỉ bình thản tiếp tục.
Bell có 2 tuần để nhập hàng và chuẩn bị cho việc kinh doanh.
Cửa hàng tạm thời thế là xong.
Đến trưa, chúng tôi tẩm ướp thịt thằn lằn làm bữa thịnh soạn.
Sau đó, tôi bảo mọi người là mình sẽ ra ngoài.
“Hừm, chắc nên dẫn Esparda với Dee theo,” tôi lẩm bẩm.
“Và một người rành đường nữa.”
Tôi hỏi thăm vài người trong làng, và Ronda giới thiệu một thợ săn tên Inka.
“Anh ta hay đi săn. Mắt cực kỳ tinh.”
Tôi thầm nghĩ:
Chắc ai ở đây cũng mắt tinh như diều, nhưng không nói ra.
Inka được gọi đến, ngực ưỡn lên, một mắt nhắm lại trông vô cùng… chuyên nghiệp.
“Anh dẫn bọn tôi đến con sông được chứ?”
Tôi hỏi.
Inka gật đầu, rồi quay lưng đi trước.
Dee, mấy hiệp sĩ và Ortho định vào rừng gom nguyên liệu nên cùng đi.
Esparda có việc cần làm, Till và Khamsin cũng nhập nhóm.
Mười phút sau khi rời làng và đi dọc theo con đường chính, cả nhóm rẽ lên phía bắc.
Con đường vẫn tiếp tục, nhưng chỉ vừa đủ để đi bộ, chứ đi xe ngựa thì đúng là thảm họa.
Cũng may là chúng ta không đi bằng xe ngựa.
“Cậu ổn chứ?”
Till lo lắng hỏi, khiến tôi cố gắng đứng thẳng mà bước cho đàng hoàng.
“Ừ, tôi ổn! Cô thì sao?”
Tôi chưa bao giờ quên quan tâm người khác.
Dù sao tôi cũng là đàn ông mà.
“Tôi khỏe lắm! Cảm ơn cậu đã hỏi!”
Till vui vẻ đáp, rồi tung tăng đi tiếp.
Phía trước chúng tôi, Khamsin đang dọn cỏ và đá trên đường.
Đúng là quý ông mẫu mực!
Đoạn đường đến con sông chẳng có gì ghê gớm, nên tôi cố gắng bắt chước phong thái tử tế của Khamsin.
Nhưng khả năng dọn đường nhanh gọn lẹ của cậu ta vượt xa mọi nỗ lực của tôi.
Trận “ganh đua” một phía chấm dứt trước khi tôi kịp gỡ hòa, vì cả nhóm đã đến nơi.
Dòng sông lớn hơn tôi tưởng rất nhiều.
Nước trong và lấp lánh dưới ánh nắng.
Không có cầu hay thuyền, nên muốn sang bờ bên kia sẽ hơi vất.
Tôi không thấy dấu hiệu có quái vật dưới nước, nhưng tất nhiên là tôi không dại gì nhảy xuống để kiểm tra.
Chưa kể, chất lượng nước cũng chưa rõ ràng ra sao.
“Được rồi, Esparda. Lấy nước từ đây nhé. Bắt đầu làm việc thôi.”
“Vâng, thưa cậu.”
Esparda cúi đầu nhận lệnh.
Công việc chính của chúng tôi là tạo một nhánh nhỏ dẫn nước từ sông về làng, nghỉ ngơi khi cần thiết.
Đầu tiên, Esparda dựng một con đập nhỏ rồi đào phần đất tạo thành kênh rẽ.
Chỉ trong nháy mắt, ông ta đào sâu cả chục mét.
Mỗi khi Esparda nghỉ, Dee và Khamsin lại lao vào tiếp sức với năng lượng kinh khủng.
Till và tôi thì gia cố mặt đất và tường kênh.
Ai cũng bảo khoảng cách từ kênh tới sông khá xa nên sẽ vất vả, vậy mà tốc độ làm việc nhanh đến bất ngờ.
Tôi choáng váng trước lượng ma lực dường như “vô đáy” của Esparda và sức bền phi lý của Dee.
“Gah ha ha ha!”
Arb và Lowe nằm vật ra đất thở dốc, còn Dee thì vừa đào bằng cái xẻng tôi làm, vừa cười như đang tận hưởng nhất đời.
“Một ông 40 tuổi mà sung dữ vậy sao…”
Esparda thở dài nói.

Dee 40 tuổi á?
Khó tin thật.
Trong lúc tâm trí tôi bay đi đâu đó, tôi tiếp tục kéo nước suốt nửa ngày.
Và bất ngờ thay, làng đã hiện ra sau khoảng 8 tiếng.
Tốc độ đúng là điên rồ.
Lúc đi bộ từ làng ra sông mất gần 1 tiếng, đâu 4km.
Vậy mà đào một lèo về lại gần làng chỉ trong 8 tiếng, chắc chỉ còn 1km nữa.
“Được rồi, hôm nay đến đây thôi,” tôi nói.
Dee và Esparda nhìn tôi như thể tôi vừa nói điều gì điên rồ.
Nhưng tôi nghĩ họ nên nhìn Arb, Lowe và Khamsin đi, ba người đó gần như “chết lâm sàng”.
“Hừm, tôi còn tưởng tìm được chỗ luyện tập mới,” Dee nói.
“Nhưng thôi, không nên cố quá.”
Không ai cảm thấy ông này kỳ lạ à?
Sao ông ta vẫn còn sức vậy?
Cái kiểu sức mạnh đầu đất này thật sự tồn tại sao?
Tôi không thể hiểu nổi, và trong đầu bắt đầu lầm bầm chê bai.
Esparda thì vẫn bình thản như không.
Đáng sợ thật…
Hôm nay tôi mới thấy sức mạnh thật sự của các “lão làng”.
Ortho và mấy người kia chẳng hứng thú với việc đào kênh, nên họ lo đi nhặt khoáng thạch về cho tôi.
Nhưng tôi mệt đến mức từ chối làm kiếm hôm đó.
Sáng hôm sau, cả nhóm đào nốt đoạn cuối và đến được hào nước của làng.
Chúng tôi kiềm chế sự nôn nóng và tạo một lối thoát nước ra phía bên kia làng.
Sau đoạn đó, tôi xây một hồ chứa sâu, để nước dâng lên rồi tràn qua.
Thật lòng, tôi muốn thiết kế sao cho nước cuối cùng chảy ngược về sông, nhưng chuyện đó để sau.
Giờ tôi chỉ muốn nhìn thấy nước chảy vào làng.
Nhóm quay lại sông bằng xe ngựa, để xe ngoài đường rồi đi bộ vào.
Đến nơi, tôi nói lời cảm ơn.
“Ờm… nhờ nỗ lực của mọi người mà giờ tôi có thể nói: công trình đã hoàn thành. Một ngày rưỡi vừa rồi chắc khá cực, nhưng tôi rất biết ơn. Giờ thì, mở đường nước thôi!”
Vừa dứt lời, con đập bị phá, và nước ầm ầm đổ xuống kênh mới.
“Ôoooh! Tuyệt quá!”
Tôi vô thức vỗ tay phấn khích.
Và mọi người cũng theo đó mà vỗ tay.
Nhìn dòng nước lao đi trên con đường chính tay chúng tôi đào thật sự rất đã.
Cả nhóm thong thả đi xe theo dòng chảy trở về làng.
Kênh dẫn nước hoạt động quá mượt, nước chảy mạnh mà không hề chậm lại.
Mượt đến mức tôi hơi lo, nên tự nhắc mình kiểm tra lại hào nước sau.
Khi chúng tôi về đến nơi, dân làng hạ cầu và mở cổng đón.
“Woah, nước kìa!”
“Nước từ sông vào rồi!”
Người dân túa ra xem dòng nước lấp lánh chảy vào hào.
Trẻ con chạy theo kênh nước la hét vui như tết.
Thú thật tôi muốn chạy theo tụi nhỏ luôn.
“Đỉnh thật!”
Ronda tiến lại và nói:
“Vậy là giờ chúng ta có nguồn nước dễ tiếp cận rồi.”
Tôi lắc đầu.
“Trước giờ mọi người chưa xử lý nước uống đúng cách. Tôi muốn lọc và đun nữa, nên phải xây thêm thiết bị.”
“Ờ, tôi hiểu…”
Ronda gượng cười, trông như không hiểu nhưng cố tỏ ra hiểu.
Trong lúc đó, tôi nhờ Dee và các hiệp sĩ chuẩn bị số khoáng thạch.
“Ở đây này!”
Lowe hôm nay lại đầy nhiệt huyết, ôm cả đống khoáng chạy đến.
Mắt cậu ta sáng như sao.
“Quan tâm đến nó à?”
Tôi hỏi.
“D-Dạ! Tôi chỉ tò mò xem lần này cậu sẽ làm ra thiết bị gì thôi!”
Sự hào hứng của cậu ta khiến tôi ngạc nhiên.
Giờ ngẫm lại… cậu ta đã vui như tết từ lúc chúng tôi hoàn thành con kênh.
“Vậy thì… làm cùng nhau nhé? Đầu tiên, chúng ta sẽ làm một cái cối nước để kéo nước lên.”
“Vâng ạ!”
Lowe hớn hở khuân toàn bộ vật liệu lại đây, còn tôi thì chỉnh sửa hình dạng chúng với sự hỗ trợ của Dee và Arb.
Chúng tôi đặt cối nước ở một bên hào, rồi gắn những gàu nhỏ xung quanh bánh xe theo khoảng cách đều nhau.
Khi bánh xe quay, các gàu sẽ múc nước và đưa lên cao.
Nước được nâng lên tới đỉnh tường, rồi khi gàu hạ xuống, chúng sẽ nghiêng và đổ nước vào máng dẫn vào trong làng.
Dòng nước đó sẽ chảy qua một hệ thống lọc làm từ cành cây, lá, cát, đất, đá và vải.
Nước sạch cuối cùng sẽ chảy vào một bể kim loại.
Bên trong và bên ngoài bể đều được phủ đồng, nên không lo bị gỉ, giữ nước luôn sạch.
Khi bể đầy nước, chỉ cần mở vòi ở đáy là lấy được lượng mình cần, rồi mang qua thiết bị đun sôi.
Mỗi tội, công đoạn đun nước vẫn phải tự nhóm lửa.
Till có giải thích rằng nếu có Hỏa tinh thạch thì châm lửa rất dễ, nên tôi sẽ phải tìm mua một viên.
Tạm thời thế này đã có nước uống an toàn rồi.
Khi tôi vừa dạy Ronda cách vận hành toàn bộ thiết bị, Khamsin đã chạy tới hớt hải.
“Đầy rồi!”
Thú thật, tôi hoàn toàn không nghĩ sẽ nghe báo cáo đó.
Mới 3 tiếng từ lúc mở dòng nước mà bể đã đầy trước bữa tối?
Tôi vội leo lên tường thành.
“Ô, thật sự đầy luôn.”
Tôi không nhịn được mà trầm trồ.
Nước từ sông đã lấp kín cả hào.
Nhưng nghĩ kỹ thì… cũng chẳng phải tin vui lắm.
“Nếu trời mưa, nước dâng lên thì chẳng phải sẽ tràn hết sao?”
Esparda, đang đứng chếch phía sau tôi, mở to mắt nhìn.
“Cậu nhận xét rất sắc bén. Bình thường người ta sẽ mở rộng lòng sông theo lưu lượng nước, hoặc đắp bờ ở những đoạn dễ tràn. Nhưng với một đường dẫn nước cụt như thế này, chúng ta phải chỉnh sửa thêm.”
Ô, Esparda khen tôi thật luôn!
“Vì nước không thể chảy đi đâu cả. Hoặc là dẫn nước xuống hạ lưu, hoặc tạo một hồ chứa ở phía sau.”
Esparda nhíu mày.
“Bình thường cách đầu tiên là đủ,” ông nói thấp giọng, “nhưng tạo hồ có lẽ khôn ngoan hơn. Những giai đoạn hạn dài, hoặc lỡ nước sông ngừng chảy, thì có hồ trữ vẫn tốt hơn.”
“Vậy chỉ cần làm biện pháp chống tràn là được, đúng không? Được rồi, làm luôn!”
Thế là tôi quyết xây một cái hồ ở khu đất cách làng khoảng 200m.
Tôi muốn hoàn thành trước khi trời đổ mưa.
“Không cần làm hình nón đâu, chỉ cần dung tích lớn nhất là được!”
“Rõ!”
“Nó sẽ có độ dốc, vậy nghiêng theo hướng này để nước dồn sang bên đó.”
“Vâng!”
Tôi mô tả hình dung trong đầu, còn Dee và mấy người kia thì biến nó thành sự thật.
Esparda đảm nhiệm việc đắp bờ và tạo dáng cho toàn bộ hồ.
Sau 3 ngày, hồ đã xong.
Việc cuối cùng là làm thêm một cánh cổng xả thủ công để tránh sự cố.
Còn những phần khác thì phải thử nghiệm rồi tính tiếp.
Nhưng trước mắt, chúng tôi đã có thật nhiều nước sạch, và thế là quá đủ với tôi rồi.
