Dù nghe có vẻ bất ngờ nhưng tôi đây vẫn ra ngoài khá thường xuyên.
Tôi lui tới các nhà xuất bản và học viện hàng tuần, rồi mỗi đợt sách mới được phát hành, tôi đều đi đến hiệu sách để tận hưởng cảm giác thú vị khi tìm kiếm những cuốn tiểu thuyết hoàn toàn mới lạ.
Dĩ nhiên khi nói đến việc dịch các tác phẩm đạo văn thì Sion là người xử lý phần lớn công việc và vì tôi không nắm rõ lắm về các sự kiện hiện tại hay xu hướng xã hội nên Sion cũng là người sẽ tóm tắt và báo lại cho tôi.
Cơ mà ngay cả khi tôi chỉ lanh quanh hiệu sách, tôi vẫn vô tình nghe được nhiều chuyện.
“Bức tường vàng đã sụp đổ rồi à?”
“Vâng, tôi nghe nói Cha Paolo đã dùng búa đập tan nó.”
Hầu hết đó là những tin đồn chấn động và khó tin đủ để mọi người có chủ đề nói chuyện cả ngày.
Câu chuyện về vị linh mục được kính trọng nhất Đế chế bỗng dưng dùng búa phá bức tường trong thủ đô cũng không phải là ngoại lệ.
Đương nhiên vị linh mục đó đã bị phạt tiền vì tội phá hoại tài sản.
“Tại sao ông ta lại làm thế chứ? Bức tường đó dù không hẳn là để phòng vệ nhưng đâu có lý do gì để phá hủy nó đâu nhỉ?”
“Trong Đế chế này rốt cuộc có bao nhiêu bức tường như thế? Người bận tâm về chúng chắc chỉ có đám nhóc thích trèo lên những nơi cao thôi.”
“Vâng, chuyện đó thì đúng thật.”
Tôi vốn không mấy bận tâm đến những vấn đề này lắm.
Bởi tôi sẽ chỉ thoáng nghĩ “Ô, chuyện lạ à nha” rồi bỏ qua.
Những khó khăn và hỗn loạn của thế giới này, cùng với con người nơi đây hiếm khi can thiệp vào việc đọc sách của tôi.
Tuy nhiên việc tôi không quan tâm đến một vấn đề không có nghĩa là tôi không bị ảnh hưởng bởi nó.
Tôi có thể bỏ qua một vấn đề.
Nhưng đôi khi, vấn đề đó lại chủ động tìm đến tôi.
“Ngài tác giả! Có khách từ Nhà thờ đến!”
“Ồ, Hồng Y Garnier đến sao? Tôi chưa nhận được thông báo gì hết.”
“Không phải! Là Cha Paolo.”
“Gì cơ?”
Chính Cha Paolo—người vừa bị phạt vì đập phá bức tường vàng, đã đến thăm nhà xuất bản.
. . .
[Chừng nào họ còn là những con người tự do, sẽ chẳng có khoa học nào có thể đem lại bánh mì cho họ. Rồi cuối cùng họ sẽ quăng sự tự do ấy dưới chân ta và thốt lên: 'Thà Ngài bắt chúng tôi làm nô lệ còn hơn, chỉ xin Ngài cho chúng tôi ăn.']
.
.
.
“Nhà văn Homer, cảm ơn vì đã đồng ý gặp tôi. Xin tự giới thiệu, tôi tên là Paolo và tôi phục vụ với tư cách là một linh mục.”
“Vâng, rất hân hạnh được gặp cha.”
Dù vẫn chưa nắm được mục đích của cuộc gặp mặt, tôi vẫn sẵn lòng chấp nhận vì tôi đã có một mối quan hệ khá sâu với Nhà thờ.
Tôi cũng đã nghe về ông qua các linh mục hội Tin Lành và cả Hồng Y Garnier.
Một học giả lỗi lạc, một tu sĩ khiêm nhường, một linh mục sùng đạo và một người phục vụ cần mẫn.
Cha Paolo được coi là gương mặt tiêu biểu cho tinh thần linh mục của Đế chế.
Thế nên không có lý do gì để tôi từ chối gặp ông ấy cả.
“Tôi hi vọng cuộc gặp này sẽ không làm phiền cậu.”
“Ồ, đương nhiên là không…”
“Thực ra, tôi đến đây để đưa ra một yêu cầu có thể sẽ gây phiền cho cậu.”
“Hả?”
“Tôi muốn mượn tên của cậu, thưa Nhà văn Homer.”
Không hiểu ý ông là gì, tôi chỉ biết nhìn chằm chằm vào vị linh mục một cách ngơ ngác.
Cha Paolo dường như coi sự im lặng của tôi là dấu hiệu để tiếp tục, nên ông giải thích thêm.
“Gần đây, tôi đã phá vỡ bức tường vàng và bị nhà thờ kỷ luật. Là một tu sĩ, nhà thờ không còn lựa chọn nào ngoài việc thanh toán khoản tiền phạt cho tôi. Nhưng thưa Nhà văn, cậu có biết điều gì ở bên kia ‘bức tường vàng’ không?”
“Ừm, tôi không chắc lắm. Tôi biết sự tồn tại của bức tường đó, nhưng…”
“Thật vậy sao? Điều đó thật ngạc nhiên. Tôi đã nghĩ cậu có thể đã chứng kiến và viết nên Anh Em Nhà Karamazov dựa trên bối cảnh đó.”
“Ý cha là sao?”
“À, có lẽ là sự linh cảm thiêng liêng dẫn dắt cậu. ‘Bức tường vàng’ chia cắt người nghèo khỏi người dân. Bên kia bức tường, những người ‘không lao động’ tập trung lại để nhận khẩu phần ăn. Đổi lại cho điều đó, họ không được bước vào bên trong bức tường vàng và sống như những cái bóng bám lấy mặt đất.”
Cha Paolo giải thích rất chi tiết về vai trò và lịch sử của ‘bức tường vàng’ thậm chí còn bao gồm cả những khía cạnh không được công chúng biết đến rộng rãi.
Chính lúc đó tôi cuối cùng cũng hiểu được nguồn gốc của sự “khó chịu” mà tôi từng cảm thấy trong những lần trước đây đến thăm thủ đô.
Bức tranh vui vẻ và rực rỡ của thủ đô, nơi không nhìn thấy những người khuyết tật, nghèo khổ hay tuyệt vọng, giờ đây cách mà cảnh tượng đó được duy trì đã trở nên rõ ràng đối với tôi.
“Một chính sách phân biệt… đối với những công dân không có khả năng sản xuất…”
Thế giới này đang vận hành theo một cách phức tạp hơn nhiều so với những gì tôi đã tưởng tượng.
Đây là một thế giới mà thống kê được ưu tiên hơn những phương pháp khoa học do có sự tồn tại của ‘phép thuật’.
Và ‘bên kia bức tường vàng’ chính là một cách thức quản lý được điều chỉnh tỉ mỉ dựa trên những dữ liệu thống kê đó.
Để giảm thiểu tỷ lệ tội phạm trong thủ đô và tối đa hóa năng suất, một nơi ‘về mặt địa lý thuộc thủ đô nhưng không phải là một phần của thủ đô’ đã được lập nên.
Chính sách chia cắt này được xây dựng để không gây ra rắc rối và người nghèo được kiểm soát thông qua việc phân phát lương thực do nhà thờ đảm nhiệm.
Tôi không biết vấn đề này có liên quan đến đạo đức không nữa.
Đây không phải là một hình thức ‘kỳ thị’ như chế độ Apartheid, cũng không chỉ là một chiến thuật ‘phô trương’ như cách điều hành của một chế độ độc tài trong thời chiến.
Về cơ bản, nó gần giống với việc phân chia ‘giá trị xã hội’ dựa trên ‘khả năng sản xuất’.
Nhờ chính sách này, người nghèo không thể lao động vẫn có thể tự duy trì cuộc sống, trong khi công dân thủ đô có thể làm việc với niềm tự hào và sự ổn định trong một thành phố an toàn với tỷ lệ tội phạm thấp.
Tất nhiên, đây không phải là một chính sách lý tưởng.
Các chính sách thay đổi theo thời gian và xu hướng, nên ngay cả ‘Vua Vĩnh Hằng’ hay ‘Đế chế Vĩ Đại’ cũng không thể tạo ra một chính sách hoàn hảo.
Nên xét theo khía cạnh này thì chính sách này đơn giản là… một chính sách rất hợp lý.
“Tôi tin rằng bức tường vàng nên được dỡ bỏ.”
“Ừm, tại sao cha lại nghĩ vậy?”
“Bởi vì con người cần được đối diện với sự thật. Họ phải hiểu rằng việc che mắt mình bằng một bức tường không làm cho những người ở bên kia biến mất.”
Và vị linh mục nói rằng ‘bức tường vàng’ nên bị dỡ bỏ.
Ông nói điều này với một lý do rất đơn giản và rõ ràng, mà không cân nhắc các không hề cân nhắc đến các chính sách phi tôn giáo.
Bởi vì đó là ‘sự thật’ và con người cần phải biết điều đó.
“Cha có tin rằng những sự thật khó nói cần phải được nói ra một cách không kiêng dè gì không?”
“Sự thật không hề gây khó chịu. Chỉ những lời dối trá ngoan cố và đáng tin mới khiến con người cảm thấy khó chịu.”
“Hừm…”
“Cậu nghĩ tôi sai sao?”
“Không. Cha nói đúng.”
Tôi phần nào đồng ý với ý kiến đó. Các chính sách dựa trên sự thiếu hiểu biết cuối cùng sẽ khiến người dân liên tục sống trong sự thiếu hiểu biết bởi chính các chính sách đó.
Hiện tại, đó chỉ là một bức tường cao hơn tầm mắt một chút, chắn tầm nhìn một chút.
Nhưng rồi sau này thì sao, liệu nó có được xây cao thêm khi con người phát triển hơn không?
Có nên lắp thêm thép vì có người trèo qua hay không, hay cấm quay phim phía sau tường vì công nghệ video ngày càng tiên tiến?
Cuối cùng bức tường đó hoặc sẽ mất đi tác dụng, hoặc sẽ trở thành một rào cản cách ly triệt để hơn những con người không làm việc ấy.
Và kết quả nó rất có thể trở thành một ‘hàng rào’ thật sự.
Phân biệt tạo ra sự chia rẽ và ngược lại, chia rẽ cũng sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử.
Bức tường của sự thiếu hiểu biết, tự nó chính là sự thù hằn và kỳ thị lẫn nhau.
“Vậy nên tôi muốn mượn danh của cậu. Sử dụng cơ sở hạ tầng của quỹ phúc lợi do cậu điều hành, tôi muốn phá bỏ ‘bức tường vàng’ và phân tách trại tiếp tế hiện có của nhà thờ thành ‘trại tiếp tế’ và ‘nhà từ thiện’ với các vai trò riêng. Qua đó, tôi đặt mục tiêu tạo ra một xã hội trong thủ đô nơi mọi người công nhận và hỗ trợ lẫn nhau.”
“Điều đó không khả thi.”
“Cậu nói sao?”
“Tội phạm, người nghiện ma túy, người nghèo, người khuyết tật… Họ sẽ không thể hòa nhập với không khí của thủ đô. Đế chế vốn sợ hỗn loạn xã hội sẽ không bao giờ chấp nhận điều này và người dân cũng sẽ không. Công dân thủ đô đã quá quen với bầu không khí hiện tại.”
“…Tuy nhiên, đó là điều cần thiết. Nếu chúng ta có đủ thời gian, cuối cùng—.”
“Phải, ta cần thời gian. Nhưng đó phải là thời gian để chấp nhận sự tồn tại của ‘sự thật’ chứ không phải thời gian để thích nghi với hỗn loạn và khó chịu xã hội.”
Cha Paolo cúi đầu trước phản ứng của tôi.
Thực ra, hẳn ông cũng biết điều này.
Xã hội sẽ không muốn đưa những người ‘không cần làm việc để sống’ ra ánh sáng.
Việc họ đơn thuần tồn tại và việc được nhìn thấy cùng nhau ở cùng một nơi là hai vấn đề khác nhau.
Nếu có những người ghen tị với những người lao động chăm chỉ, cũng sẽ có những người ghen tị với những người không làm việc.
Và điều này sẽ giáng một đòn chí mạng vào năng suất của Đế chế, tiềm ẩn nguy cơ tạo ra một xã hội mà không một khoản từ thiện nào có thể làm dịu bớt sự nghèo khó của người nghèo.
“Vậy tôi nên làm gì đây?”
“Tôi có cách biến sự thật ấy thành một vấn đề gây tranh cãi.”
“Hả?”
Tất cả những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, thần học, kinh tế và đạo đức này đều không phải là chuyện để tôi bận tâm.
Thứ duy nhất mà tôi quan tâm chỉ có một.
“Hãy viết một cuốn sách. Mọi thứ cha đã thấy, đã nghe và đã cảm nhận bên kia bức tường vàng.”
“…Cậu nghĩ mọi người sẽ đọc nó sao?”
“Về việc xuất bản, tôi rất sẵn lòng cho cha mượn tên của tôi. Nếu muốn, tôi có thể đảm bảo rằng tất cả độc giả của Đế chế sẽ biết về cuốn sách cha đã viết. Tôi thậm chí sẽ viết lời giới thiệu cho nó.”
Văn học biến sự thiếu hiểu biết thành vấn đề.
Do đó tác phẩm văn học có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, rốt cuộc chính là ‘sự thật.’
“Hãy viết một cuốn sách.”
Chế độ Apartheid là một chính sách và hệ thống phân biệt chủng tộc hà khắc đã từng được thực hiện ở Nam Phi trong một thời gian dài, đặc biệt là từ năm 1948 đến đầu thập niên 1990.