Sói và Gia vị: Spring Log

Chương kế tiếp:

Truyện tương tự

I’ll Take Nanase-san, Who Is Small And Adorable, Away From Her Cheating And Clueless Ex And Make Her Happy

(Đang ra)

I’ll Take Nanase-san, Who Is Small And Adorable, Away From Her Cheating And Clueless Ex And Make Her Happy

Karasuma Ei

Câu chuyện xoay quanh cuộc tình lãng mạng giữa cặp nhân vật chính và một chút sự trừng phạt dành cho kẻ phản bội.

41 2001

Heacy Object

(Đang ra)

Heacy Object

Kamachi Kazuma

Cuối cùng, chiến tranh vẫn không thể bị kết thúc. Nhưng đã có một sự chuyển biến.

283 2095

Vĩnh thoái hiệp sĩ

(Đang ra)

Vĩnh thoái hiệp sĩ

lee hyunmin, ga nara

Mỗi ngày lặp lại, vẫn lao về phía ánh sáng của ngày mai.

456 13661

Infinite Dendrogram (WN)

(Đang ra)

Infinite Dendrogram (WN)

Sakon Kaido

Liệu điều gì đang chờ đợi cậu khám phá ở phía trước, trong một thế giới game nổi danh bởi sự chân thực đến khó tin và những khả năng không giới hạn ấy?

175 879

Võ Lâm Máu M

(Đang ra)

Võ Lâm Máu M

이만두

"...Mấy cái này, là đồ chơi SM mà."

297 2266

Throne of Magical Arcana

(Đang ra)

Throne of Magical Arcana

Ái Tiềm Thủy Đích Ô Tặc (Mực Thích Lặn Nước)

Đây là web novel đầu tay của lão Mực, đầu tay chứ không có nghĩa là non tay. Lão Mực đã vẽ nên thế giới nơi mà tri thức, khoa học thực sự biến thành sức mạnh theo đúng nghĩa đen và chứa đựng một khối

901 85428

Volume 23: Spring Log VI [Đã Hoàn Thành] - Sói và Tiếng Thở Dài Của Chó Săn Già

Sói và Tiếng Thở Dài Của Chó Săn Già

Một ngày nọ, một vị thánh được Chúa phái đến đã xây dựng một nơi tu hành trên một dải đất từng là ngôi làng nông nghiệp rải rác. Những người khao khát tình yêu của Chúa đã kéo đến thăm nơi tu hành này, biến nó thành nơi giao thương của người dân địa phương, từ đó thu hút các thương nhân. Chẳng mấy chốc, một ngôi làng đã mọc lên quanh nơi tu hành đó, và dần dần phát triển thành một thị trấn.

Đây là cốt lõi của truyền thuyết về sự ra đời của Salonia. Nhưng một thương nhân lưu động quen biết đã từng kể với cô rằng, có khả năng một người nào đó với sức hút lớn, nhưng không hoàn toàn đúng với thân phận thật sự của họ, đã đến đây, tham gia vào trào lưu phát triển vùng này, và tạo ra vẻ ngoài của một thị trấn, ít nhất là về mặt hình thức. Khi nữ linh mục Elsa lần đầu nghe điều này, cô đã nghĩ: "Thật giống nhau", khi đôi mắt màu mật ong của cô lướt nhìn qua những con phố đông đúc của Salonia.

Elsa vốn sống ở một ngôi làng rất xa Salonia, nhưng cô đã rời bỏ gia đình để đi thăm các nhà thờ trên toàn thế giới. Những nhà thờ này không còn phù hợp với xu hướng thời đại và đang vật lộn để thích nghi, điều này khiến cho những người có khả năng quản lý sắc sảo như cô trở nên cần thiết. Cuối cùng, cô đã đến đây, sẵn sàng đi từ nơi này sang nơi khác theo yêu cầu của Giáo hội. Tất nhiên, cô là một người phụ nữ vô cùng sùng đạo.

Tuy nhiên, việc nghe sự thật đằng sau câu chuyện hình thành của Salonia lại mang đến cảm giác ớn lạnh, vì nó gợi nhắc rằng trên thế giới này, những điều thật sự có rất ít.

Vì vậy, cô không ngạc nhiên khi thấy nhà thờ Salonia được giao cho một giám mục có phần không đáng tin cậy. Và khi những rắc rối về tài chính lại nổi lên, tất cả những gì cô có thể làm là khẽ thở dài.

“Có người đang cảm thấy khó chịu đấy nhỉ?”

Salonia lúc này đang tràn ngập sự háo hức chuẩn bị cho lễ hội, tâm điểm của những khu chợ sầm uất. Tuy nhiên, Elsa lại ngồi thu mình dưới hiên một quán rượu vắng nằm ở một góc phố yên tĩnh. Cô ngước lên khi nghe thấy giọng nói quen thuộc.

“Thật tuyệt khi gặp cô ở đây.”

Cô gái trẻ với mái tóc màu lanh chẳng buồn đáp lại lời của Elsa, cũng không hỏi xem có được phép ngồi cùng không, mà lập tức ngồi xuống đối diện Elsa, gọi chủ quán một cách thành thạo.

Sự mâu thuẫn giữa vẻ ngoài điềm tĩnh, triết lý và độ tuổi thanh xuân của cô là bởi cô chỉ đang mang hình dáng tạm thời. Thực chất, cô là một hóa thân sói có tuổi đời hàng thế kỷ, và mỗi khi Elsa nhìn cô, cô lại nhớ đến việc suy nghĩ về loài sói của mình đã thay đổi thế nào từ lúc họ gặp nhau.

Cô không biết điều này là tốt hay xấu, nhưng cô chắc chắn rằng hóa thân sói này sẽ vô cùng tức giận nếu nghe thấy những suy nghĩ đó.

“Rất bất ngờ khi thấy cô ở một nơi tẻ nhạt và ảm đạm thế này,” Holo nói, nhận lấy phần rượu và món hầm thịt và rau từ chủ quán.

“Bởi vì món hầm ở đây rất ngon. Và nơi này cũng rất yên tĩnh nữa.”

“À, đúng rồi. Cô đâu phải là một quan chức kiêu căng của Giáo hội. Cô chỉ là một cô gái đến từ một ngôi làng thôi.”

Elsa vẫn cảm thấy một chút ngượng ngùng khi bị gọi là “cô gái” dù cô đã có ba người con. Nhưng với một linh hồn đã sống hàng thế kỷ như Holo, lần gặp mặt của họ từ vài chục năm trước có lẽ chỉ như một chuyện mới xảy ra hôm qua.

Cô đưa cốc bia lên miệng khi ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu.

“Và cô cũng đủ rảnh rỗi để uống rượu vào bữa trưa.”

“Ngay cả Chúa cũng dành một ngày để nghỉ ngơi mà. Tôi chỉ đang làm những gì mình nên làm thôi.” Holo nhíu mày—Elsa la mắng cô ấy vì lối sống buông thả và việc uống quá nhiều—rồi cắn vào miếng gà bị nấu quá lâu, nhai cả sụn và lộ ra hàm răng sắc nhọn. “Tôi cũng ngạc nhiên như cô thôi. Anh Lawrence đâu rồi?”

Hóa thân sói này, người từng bảo vệ vụ thu hoạch lúa mì của một ngôi làng, nhờ ân sủng kỳ diệu nào đó đã kết hôn với một thương nhân lưu động. Do đã góp chút ít phần vào việc họ đến với nhau, Elsa rất vui khi thấy họ hòa thuận, nhưng sự gần gũi của họ lại đôi khi khiến người khác cảm thấy không dễ chịu.

Hoặc có lẽ, vì quá thân thiết, họ lại bắt đầu cãi nhau—và ngay khi Elsa nghĩ đến điều đó, Holo buông thõng vai như một người phụ nữ lớn tuổi, rồi trả lời khi nhấp một ngụm rượu.

“Anh ta rất nổi tiếng ở đây. Lúc nào cũng đi đâu đó từ khi mặt trời mọc cả.”

Đôi tai sói của cô, bị giấu dưới lớp khăn trùm đầu, khẽ nhúc nhích tỏ vẻ khó chịu. Con sói này thực sự khá nhút nhát và thích ở một mình; cô có lẽ đã quyết định rằng thà ngồi chung với người mình ghét vì bị giáo huấn còn hơn là đi lang thang một mình trong thị trấn.

“Anh ấy đã giải quyết được vài vấn đề lớn rồi nhỉ?”

Đầu tiên là rắc rối lớn về nợ nần đè nặng lên người dân Salonia. Những thương nhân đến thị trấn để buôn bán đã không thể trả nợ, nhưng Lawrence đã làm giảm gần như toàn bộ số nợ đó mà không cần bỏ ra một đồng xu nào—điều đó gần như chính là ma thuật.

Chỉ riêng điều đó đã đủ để anh ghi danh vào lịch sử thị trấn, thế nhưng anh còn giải quyết được vấn đề liên quan đến một cái ao cá từng cứu Salonia khỏi nạn đói. Dưới sự chỉ dẫn của Lawrence, họ đã đào một cái hồ nhỏ giữa quảng trường để tạo một cái ao mang dáng dấp của biển, làm sân khấu cho một vở kịch nhỏ.

Họ đổ nước nóng vào ao vừa mới đào, thêm các dược liệu suối nước nóng mang từ Nyohhira, biến nó thành nơi để người lớn có thể ngâm chân và trẻ nhỏ vui chơi thoải mái; việc này đã mang thêm sức sống cho khu chợ.

Đương nhiên, Holo luôn kề vai sát cánh bên Lawrence trong khi anh giải quyết những vấn đề này. Mọi người biết đến cô như người vợ trẻ của một thương nhân vĩ đại Kraft Lawrence, người kiểm soát chồng rất chặt, toát lên vẻ mạnh mẽ và có thể uống rượu giỏi hơn bất kỳ ai; Elsa tin rằng Holo cũng rất được mọi người biết đến và yêu thích.

“Tôi nghĩ cô chắc hẳn đã nhận được rất nhiều lời mời đi uống rượu rồi, đúng không?”

Cách đây không lâu, Holo đã được giao nhiệm vụ chọn lựa đồ uống cho lễ hội kết thúc mùa chợ, và cuối cùng cô đã say bí tỉ ngay giữa ban ngày.

Hiện tại, chắc chắn cô sẽ không thiếu những người muốn uống cùng.

Xét đến tình yêu vô bờ đối với rượu của cô, Elsa nghĩ rằng cô ấy không có lý do gì để từ chối một lời mời, thế nhưng người phụ nữ ngồi đối diện lại quay đi, với vẻ mệt mỏi không thể che giấu trên khuôn mặt.

“Chỉ vui lúc ban đầu thôi.”

“Quá nhiều sự chú ý à?”

Dù Holo có vẻ tự tin, cô lại thích được riêng tư hơn. Nhưng cô cũng ghét bị người khác tâng bốc. Các vị thần ngoại giáo thường khó hiểu như nhau, nhưng có lẽ chính điều đó đã làm nên con người họ.

Elsa nhấp một ngụm bia nhạt, chỉ để nhận ra ly đã gần cạn.

Cô đã ăn trưa xong; có lẽ đã đến lúc quay lại nhà thờ.

Khi ý nghĩ đó vừa thoáng qua, cô nhận thấy Holo đang trầm ngâm nhấp rượu, chỉ cắn một miếng gà và không hề đụng đến món hầm.

Khi nhìn con sói ngồi bó gối với vẻ bồn chồn, Elsa hiểu rằng cô không thể bỏ đi lúc này.

Cô thở dài. Cô kinh ngạc khi thấy hóa thân sói này dường như không hề thay đổi so với khi họ gặp nhau lần đầu, nhưng điều đó cũng mang lại cho cô một chút sự an ủi.

“Làm ơn cho thêm rượu vang!” Elsa gọi, giơ cao ly của mình về phía trong quán, và mắt Holo mở to khi cô làm vậy.

“Tôi biết nếu cô không có việc gì làm, cô đã quay về phòng ngủ rồi. Cô muốn nói chuyện với tôi, đúng không?”

Holo đã sống qua nhiều thế kỷ và được biết đến như dưới danh hiệu Hiền giả Sói, nhưng hiện tại cô lại trông như thế này—đôi vai căng cứng, môi mím lại. Elsa tự nhủ con sói này có vẻ rất giống những đứa trẻ của cô.

Holo nhìn Elsa, như thể cô đã chờ đợi Elsa nói điều đó.

“...Cô sẽ không cười tôi chứ?”

Mặc dù vai trò này chỉ là tạm thời, Elsa vẫn là một giáo sĩ.

“Tôi không thể gọi mình là người phục vụ Chúa nếu tôi cười nhạo sự khó khăn của người khác được.”

Holo quay mặt đi trong chốc lát, uống cạn ly rượu của mình trong một hớp duy nhất rồi gọi thêm một ly khác vì không muốn bị thua kém.

~~~

Nhiều dân làng từng quỳ dưới chân cô trong quá khứ, vinh dự khi nghe những lời tiên tri hay bất cứ điều gì họ muốn nghe; nhưng giờ, ngồi cúi người ôm lấy ly rượu, Holo trông giống như một người cao tuổi trong làng đã quá già để rồi trở lại như một đứa trẻ.

“Tên ngốc đó không hiểu một chút gì về tôi cả.”

Elsa nghĩ vu vơ về câu nói đó và cảm thấy nó giống như một khẩu hiệu quen thuộc của Holo, và khuyến khích cô tiếp tục vì tò mò.

“Ý cô là sao?”

“Cô có biết anh ta đã bị gọi đến tham gia vào một vài cuộc đàm phán phức tạp không?”

“Ồ?”

Lawrence hiện tại là người nổi tiếng nhất Salonia, và nhiều người tin rằng mọi vấn đề dưới sự quản lý của anh sẽ được giải quyết nhanh chóng. Cô đã nghe nói rằng anh bị kéo vào đủ mọi rắc rối, từ các vấn đề thương mại đến những tranh chấp hôn nhân; cô tự hỏi liệu lần này là chuyện gì đây.

“Tôi nghe nói nó liên quan đến công việc của cô.”

“À-ha.” Elsa hiểu ngay lập tức. “Có phải về mức thuế của thị trấn không?”

“Tôi không rõ. Nhưng tôi nghe nói các thương nhân giống như anh ấy đang đấu đá nhau.”

“Tôi cũng nghe vậy.”

Holo nhíu mày, có lẽ không hài lòng với thái độ hờ hững của Elsa.

Nhưng Elsa cũng thở dài, và Holo ngơ ngác nhìn cô.

“Chính vấn đề đó khiến tôi không muốn quay lại nhà thờ đấy. Đó là một tình huống rất ngu xuẩn.”

Đó là lý do tại sao cô lại cất công ăn trưa ở đây; không có cảnh báo trước, Elsa nghe thấy tiếng sột soạt của lông thú ma sát với vải.

“Ồ hô?”

Holo vừa có vẻ chán nản vài khoảnh khắc trước, nhưng năng lượng của cô đã trở lại ngay khi thấy Elsa trông lo lắng. Cái đuôi bông xù của cô đang vẫy nhẹ vui sướng dưới lớp áo. Elsa không thể tin nổi người phụ nữ này, nhưng cô không ghét sự bộc trực, thẳng thắn của Holo.

“Các cuộc đàm phán về mức thuế cho mọi hàng hóa đưa vào thị trấn đang diễn ra tại phòng hội đồng ngay lúc này. Tôi đoán sẽ dễ hiểu hơn nếu tôi nói rằng cuộc họp này sẽ quyết định loại rượu cô đang uống là đắt hay rẻ.”

Holo cúi xuống nhìn cái ly trong tay, rồi nuốt ngụm rượu cùng với thông tin đó.

“Có những thương nhân muốn nhập rượu với giá rẻ, và có những thương nhân bán bia muốn đánh thuế cao hơn đối với rượu vang vì đó là thứ cạnh tranh với họ.”

“Mm.”

“Nhưng người quản lý những xung đột lợi ích này ở từng thị trấn lại khác biệt nhau. Ở đây, đó là trách nhiệm của nhà thờ.”

Elsa cho rằng một phần nguyên nhân là vì một vị thánh có liên quan đến truyền thuyết thành lập thị trấn, nhưng sự thật là nhà thờ lại can thiệp rất sâu vào vì họ kiếm được rất nhiều tiền từ những mức thuế đó.

“À, đúng vậy, người quản lý nhà thờ ở đây khá mờ ám. Ông ta uống rượu rất vui, nhưng tôi nghĩ cô không mấy ưa ông ta.”

“Ngài ấy không phải là một người xấu, nhưng thật không may, ngài ấy luôn là một kẻ khéo ăn nói…”

Tổ chức ban đầu đã gọi Elsa đến hỗ trợ là nhà thờ ở Giáo phận Vallan. Tại đó, cô đã đoàn tụ với Lawrence và Holo, nhờ họ giúp đỡ và đã thành công trong việc bán đi nhiều tài sản của nhà thờ với giá cao. Giám mục ở Salonia đã nghe ngóng được việc này và đã dồn tất cả những rắc rối của Salonia lên đầu Elsa. Bản thân công việc không phải là vấn đề với cô, nhưng cô không cảm thấy hài lòng với tình huống này. Cảm giác này càng thêm tệ hại khi nhà thờ Salonia lại đòi hỏi một phần lợi nhuận khổng lồ, mặc dù bề ngoài họ là một cơ sở chuyên giảng dạy và thực hành khổ hạnh và sự tiết độ.

Elsa nhận ra cô đã vô tình nói xấu giám mục dù không có ý như vậy; cô ho nhẹ và thấy Holo đang cười tươi, để lộ những chiếc răng nanh.

Ahem. Dù sao thì, tất cả những quyền lợi liên quan đến tiền bạc sẽ được đưa ra bàn thảo trong cuộc họp này, và ai cũng muốn có tiếng nói của mình. Và tôi tin rằng anh Lawrence đã bị giao trọng trách đó, ý kiến của anh ấy có ảnh hưởng rất lớn…”

Có lẽ lý do khiến Holo buồn bã là vì cô cảm thấy buồn khi Lawrence không có mặt để làm cô vui. Elsa nghĩ nếu thật sự là vậy, cô ấy sẽ nói thẳng ra, nhưng cô biết cặp đôi này thường không thành thật với cảm xúc của mình và đôi khi tự làm khổ mình một cách không cần thiết.

Họ giống như hai hạt đậu trong một vỏ vậy, nhưng cô nghĩ họ sẽ tốt hơn nếu biết đặt mình vào vị trí của người kia.

“Tôi hiểu anh ấy có vai trò quan trọng trong thị trấn này. Và anh ấy đã làm nhiều việc để chuộc lỗi vì đã để tôi một mình,” Holo nói với vẻ tự hào, và Elsa quyết định chỉ đáp lại bằng một tiếng hừ nhẹ. Sói thông thái tiếp tục: “Nhưng vấn đề vốn dĩ là anh ta cứ luôn đâm đầu vào những rắc rối đó.”

“Thật vậy sao? Quả thực những chuyện này gây phiền toái cho cư dân, và nó cần phải được giải quyết. Là một người ngoài, anh Lawrence hoàn toàn phù hợp để hòa giải những bất đồng trong thị trấn. Tôi tin anh ấy đang làm tốt vai trò của mình, và cô chắc hẳn rất tự hào về thành tựu của anh ấy, đúng không?”

“Đúng, sự thật là vậy…,” Holo lẩm bẩm.

Elsa thở dài và nói: “Tôi tin rằng anh Lawrence làm tất cả những việc này để chứng tỏ cho cô thấy anh ấy giỏi đến mức nào.”

Từ khi gặp lại tại nhà thờ Giáo phận Vallan, chỉ cần nhìn thôi, Elsa cũng biết Holo gần như là tất cả những gì Lawrence nghĩ đến, và cô có thể dễ dàng thấy qua mọi hành động của anh rằng anh đang rất vui mừng trong chuyến đi đầu tiên sau mười năm.

Dù Elsa nghĩ rằng cô gái ích kỷ này khá thích điều đó ở anh, con sói vẫn thở dài nặng nề.

“...Đây là lần thứ ba liên tiếp rồi. Tôi cảm thấy muốn ợ quá.”

Holo làm Elsa nhớ đến một con mèo hoang trong xóm trở nên uể oải sau khi nhận được quá nhiều sự quan tâm từ lũ trẻ.

Elsa có thể thấy Holo đang thất vọng, nhưng cô cảm giác như câu trả lời cho vấn đề này rất rõ ràng.

“Sao cô không nói thẳng với anh ấy đi? Cô đâu phải là cô vợ mới cưới,” cô nói thẳng, và Holo chỉ thu mình lại, nhấp thêm một ngụm rượu.

“Tôi làm được như vậy thì dễ quá. Nói cách khác...tôi mới là người khuyến khích đồ ngốc đó ngay từ đầu cơ mà...”

Dù ở hình dạng thật sự, cô là một con sói lớn đủ sức đè bẹp những đội quân, nhưng cô lại rụt đuôi vì sợ hãi trước một cựu thương nhân, và Elsa thấy điều này rất thú vị. Khi ý nghĩ đó thoáng qua, sự tò mò trong cô dâng lên—lần này con sói đã tự đưa mình vào cái bẫy gì vậy?

“Tại sao lại như vậy?”

Dù cô ngồi thẳng lên, Holo vẫn căng cứng đôi vai và cổ, nhìn đăm đăm vào khoảng không, rồi vừa nói vừa thở dài: “Cô đã góp phần giúp tôi và anh ấy đến với nhau.”

Mắt Elsa mở to; cô không quá ngạc nhiên về chuyện tại sao Holo lại nhắc đến chuyện này, mà là sự ngạc nhiên trước việc Holo đột nhiên cảm ơn cô.

“Đừng có làm vẻ mặt đó… Nhờ cô khích lệ mà chúng tôi mới nắm lấy tay nhau còn gì. Cô biết mà.”

Khi Elsa ngồi cùng cỗ xe với Holo, lý do chính khiến Holo có vẻ không thoải mái là vì cô nhận thức được cô nợ người phụ nữ của Giáo hội nhiều như thế nào.

“Dù sao thì, giờ chúng tôi đang ở bên nhau. Nói thật, tôi rất hạnh phúc. Đến mức đau đớn luôn.”

“Tôi…đoán là vậy. Và thành thật mà nói, anh Lawrence chiều chuộng cô quá mức rồi.”

Con sói với tuổi đời hàng thế kỷ trả lời một cách nhã nhặn: “Anh ấy làm vậy vì anh ấy muốn mà.”

“Dù vậy đi nữa…”

Dù mới chỉ hơn mười năm kể từ khi họ bắt đầu xây dựng gia đình, họ đã trở nên thân thiết hơn rất nhiều so với ngày đầu gặp nhau.

Elsa nhấp một ngụm rượu vang của mình để nuốt trôi tình cảm ngọt ngào ấy.

“Nhưng có thể nói việc tôi nắm tay anh ấy cũng đồng nghĩa với việc tôi kéo anh ấy ra khỏi con đường anh ấy muốn đi, đúng không?”

“Hmm… Có lẽ vậy.”

Dù gì thì Elsa nghĩ sẽ chính xác hơn khi nói rằng đó là ý định không khôn ngoan nếu để Lawrence tự do hành động, vì anh đôi khi khá không ổn định, nhưng có vẻ Holo lại có suy nghĩ riêng về vấn đề này.

“Ý cô là cô đã mắc sai lầm?”

“...Anh ấy đã có cơ hội đi trên một con đường sẽ giúp anh ấy trở thành thương gia vĩ đại nhất thế giới, người có thể thống trị thế giới. Nhưng tôi đã nói với anh ấy rằng tôi đã quá ngán những chuyện vớ vẩn như vậy và đẩy anh ấy rời xa nó.”

Đó không phải là lĩnh vực có nhiều liên quan với cuộc sống của Elsa, nên cô chỉ mơ hồ biết về những điều như vậy, nhưng cô biết rằng Lawrence đã cứu được một trong những công ty lớn và có tầm ảnh hưởng nhất ở phía bắc và được mời tham gia vào công ty đó.

Nếu anh chấp nhận, có khả năng cao trí tuệ của anh và sự sáng suốt của Holo sẽ khiến anh trở thành một người đàn ông giàu có không tưởng ở một thành phố nào đó.

Dù vậy, Elsa khó mà hình dung được Lawrence sẽ trở thành một tên tuổi lớn và lãnh đạo hàng chục người. Cô nghĩ rằng quy mô của nhà tắm ở Nyohhira là rất phù hợp với anh, nhưng có lẽ đối với Holo lại không như vậy.

Khi Elsa khẽ buông thõng vai—Tình yêu đúng là mù quáng, cô nghĩ—Holo lên tiếng.

“Và… tôi thấy mình đã bộc lộ điều này với anh ấy.”

“…”

Elsa chắc chắn rằng suy nghĩ của cô về sự ngớ ngẩn đó đã hiện rõ trên khuôn mặt cô. Với một biểu cảm đau khổ, Holo gầm gừ, để lộ hàm răng nanh.

Elsa thở dài và hắng giọng cùng lúc, rồi nhìn thẳng vào Holo và nói: “Anh Lawrence yêu cuộc sống của mình với cô hơn mọi thứ khác, vì vậy anh ấy đã làm theo mong muốn của cô. Tôi không nghĩ anh ấy hối hận về quyết định của mình đâu.”

“Tôi biết chứ!”

Những chú chim quanh đó giật mình bay đi vì tiếng hét chói tai của Holo.

Cô lập tức khó chịu lặp lại: “Tôi biết,” và lấy tay ôm đầu. “Tôi đã quá thư thái kể từ chuyến đi đầu tiên trong suốt nhiều năm… Và tôi có quá nhiều thời gian để suy nghĩ trên thùng xe xe, vào những đêm trong quán trọ… Và điều quan trọng nhất…” Cô nhìn xuống bàn. “Khi tôi thấy anh ấy được chiếu sáng bởi ánh lửa của những bếp lửa lạ lẫm, tôi nhận ra anh ấy đã già đi bao nhiêu trong thời gian chúng tôi bên nhau. Tôi chưa bao giờ nhận ra điều đó ở không gian quen thuộc trong nhà tắm.”

Holo trông vẫn như một cô gái trẻ, giống y hệt khi Elsa gặp cô lần đầu, và có lẽ cô vẫn sẽ như vậy khi Elsa đã già đến mức cần dùng gậy chống. Trong mắt cô, mười hay hai mươi năm chỉ là một chặng đường ngắn.

Nhưng đối với Lawrence thì không.

Khi họ cùng nhau chu du như thuở ban đầu, Holo không thể không nhận ra những dấu hiệu của tuổi già nơi anh khi ngọn lửa soi rọi bóng hình của anh.

Elsa biết Holo luôn mang theo giấy bút, viết ra những chuyện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Đó là cách cô muốn khắc sâu những khoảnh khắc vào ký ức, những ký ức mà nếu không làm thế sẽ bị dòng chảy tàn nhẫn của thời gian cuốn đi.

Elsa không còn có thể cười hay thấy khó chịu khi đối mặt với Holo; cô vươn tay qua bàn và đặt tay lên bàn tay nhỏ bé của con sói.

“Tôi nhận ra rằng anh ấy đã mang lại cho tôi một thứ thật tuyệt vời.” Holo nhìn chằm chằm vào bàn tay đang nắm lấy tay mình trước khi rụt lại cùng một nụ cười tự giễu. “Chúng tôi đã đến thăm công ty của cô, Công ty Debau đúng không nhỉ? Lúc chúng tôi bán ngọn núi của cô ấy. Nó to lớn đến mức chóng mặt. Đó là một nơi sầm uất, rực rỡ và tràn đầy sức sống. Khi tôi nghĩ về việc tôi đã kéo anh ấy khỏi một cuộc sống như vậy… tôi bị bao trùm bởi sự sợ hãi.”

Elsa cũng xuất thân từ một ngôi làng nhỏ tên là Tereo, nên cô dễ dàng tưởng tượng ra cú sốc mà Holo đang trải qua. Chính cô cũng từng bị sốc trước khao khát khẳng định bản thân trong thế giới, một khao khát mà cô chưa từng cảm thấy trước khi nhìn thấy một nhà thờ chính tòa tráng lệ ở một thành phố rộng lớn.Spice%20and%20Wolf%20Volume%2023%20-%20PDF%20Room-97_pages-to-jpg-0001.jpg?updatedAt=1751030175004Tất nhiên, bây giờ nó chỉ còn là tàn tích của một giấc mơ có lẽ đã có thể trở thành sự thật; cô biết rằng nhiều sức hút của giấc mơ sẽ biến mất nếu cô thực sự đạt được nó, và không có sự bảo đảm rằng cô sẽ có những điều tuyệt vời tương tự trong cuộc sống nếu cô chọn đi theo một con đường khác.

Hành trình của cuộc đời là một con đường tàn khốc với không cơ hội làm lại. Mọi người đều buộc phải bước tiếp trong khi luôn tự hỏi liệu những sự lựa chọn mình đã đưa ra có đúng không.

Holo sẽ sống một thời gian rất, rất dài nữa, nên có thể có một lúc nào đó cô sẽ chấp nhận những sự thật này chỉ với cảm giác về sự thất bại, nhưng khi nói đến người bạn đời yêu dấu của mình, cô lại không thể giữ bình tĩnh.

Nói thế nhưng Elsa không tin rằng Lawrence sẽ có lúc hối hận về những lựa chọn dẫn anh đến cuộc sống hiện tại, và cô biết rằng nếu nói những lời không chắc chắn sẽ chỉ gây bất lợi cho anh. Anh được yêu mến rất nhiều, nên cô cảm thấy anh có trách nhiệm phải tin tưởng hoàn toàn và với sự quyết tâm rằng bạn đời của anh cũng hạnh phúc.

Là một thành phần trong hàng giáo sĩ, Elsa thường phải làm người hòa giải trong những cuộc tranh cãi của các cặp vợ chồng. Cô đã từng chứng kiến những tình huống tương tự hàng ngàn lần. Một lời khuyên gần như đã chực tuôn trào ra khỏi miệng cô—Cô sẽ sống lâu hơn bất kỳ con người nào hàng chục lần, vậy sao lại để bản thân vướng vào những cạm bẫy cơ bản nhất?—nhưng Holo có vẻ hoàn toàn nhận thức được sự ngớ ngẩn của chính mình.

Không những thế, có những chi tiết đặc thù chỉ áp dụng được với cô ấy.

Elsa, người đóng vai trò là cầu nối cho cặp đôi kỳ lạ này, nắm mạnh tay Holo và bóp một cái khích lệ trước khi buông ra.

“Tôi hiểu vấn đề rồi.”

Dân thị trấn tin rằng Holo kiểm soát Lawrence rất chặt, và thoạt nhìn, Lawrence dường như hoàn toàn phải tuân theo sự thất thường của Holo, nhưng thực ra Holo mới là người không thể chịu nổi việc rời xa anh.

Dù sao thì Lawrence cũng không hề giống hình tượng bạch mã hoàng tử trong truyện cổ tích.

“Tôi nghĩ điều đó giống như vô ý thêm đường vào ly mật ong vốn đã đủ ngọt rồi vậy.”

Khi Elsa nói thế, Holo thực sự tỏ ra thất vọng.

“Chính xác. Và giờ anh ấy đang tiến về phía tôi với một hũ đường khổng lồ cùng nụ cười rạng rỡ. Và tôi cứ tưởng lời lỡ miệng của tôi đã trôi qua cùng vấn đề phức tạp về nợ nần rồi cơ. Tôi đã dại dột nói với anh ấy rằng anh ấy hoàn toàn có thể trở thành một thương gia tài giỏi với phép thuật của mình khi xem cách anh ấy giải quyết đống nợ đó dễ dàng đến thế.”

Mặc dù có vẻ trẻ con, nhưng như thế là đủ để xua tan những nỗi lo của Holo, và niềm vui của cô hẳn là rất lớn.

Tuy nhiên, Elsa nghĩ rằng cũng có một điểm cần lưu ý. Cô không lập tức cho rằng Lawrence là con cừu vì sự mềm lòng của anh, mà là do anh không nhận ra giới hạn của mình; nguyên do nằm ở đôi khi anh có thể thiếu nhạy bén và cứng đầu.

“Sau khi thấy mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, giờ anh ấy muốn giải quyết chuyện thuế quan một cách triệt để và chứng tỏ cho cô thấy anh ấy giỏi đến mức nào, phải không?” Elsa hỏi.

Holo thở dài thật sâu.

“...Đúng vậy.”

Elsa hiểu tại sao một người đàn ông lại muốn liên tục thể hiện tài năng trước người vợ yêu dấu của mình.

Với tư cách là người phục vụ Chúa, cô nghĩ việc họ gắn bó như vậy là tốt, rằng nhiệm vụ của một người vợ tốt là ngưỡng mộ và khen ngợi chồng mình, nhưng đó chỉ là lý lẽ mà thôi.

Bản thân cô cũng đã lập gia đình với một người đàn ông có lòng tốt vô hạn, nhưng đôi khi lại có chút cứng đầu.

Cô hồi tưởng về những ngày sống ở Tereo, dễ dàng mường tượng chồng cô, Evan, cũng lặp đi lặp lại những hành động tương tự với cô. Lần đầu tiên, cô chắc chắn sẽ rất vui sướng, lần thứ hai, có lẽ cô sẽ cố nặn ra một nụ cười, nhưng có lẽ sức chịu đựng của cô sẽ cạn kiệt ở lần thứ ba.

“Sẽ thật tuyệt nếu mọi chuyện chỉ có vậy.”

“Vẫn còn gì khác nữa sao?”

“Bên nhà thờ nơi cô làm việc lại ra mặt rồi. Dường như anh ấy đã bị dụ dỗ vào một âm mưu nào đó.”

Khi Holo nói như vậy, Elsa lập tức hiểu ngay ai đang dùng những lời lẽ dụ dỗ.

“Cô có ý nói tới Đức Giám mục sao?”

“Đúng vậy. Ông giám mục đó đã hứa hẹn cho anh ấy một phần thưởng đáng ngờ để đổi lấy sự trợ giúp. Và…” Holo đưa ly rượu lên môi, nhấp một ngụm đầy khoan khoái rồi nhìn Elsa bằng vẻ mặt nghi hoặc. “Tên ngốc ấy đã nói với tôi rằng, trở thành một người có tước vị cũng không phải là một ý tưởng tồi.”

Đàn ông lúc nào cũng như những đứa trẻ. Elsa hình dung Lawrence đang vô tư mơ mộng và mỉm cười, làm cô nhớ đến Evan khi cô phải mắng anh vì đã gây rối cùng lũ trẻ.

“Giờ đây, khi Myuri đã lớn và tự lập, tên ngốc đó lại bắt đầu ôm ấp những mơ mộng viển vông. Cảm giác như anh ta đang lợi dụng tình thế của tôi để trục lợi cho bản thân ấy.”

“À…”

Elsa thi thoảng cũng nghe những lời than phiền tương tự khi còn ở quê nhà. Cánh phụ nữ trong làng thường thở dài, tưởng rằng khi nuôi nấng con cái xong là đã xong nghĩa vụ, nào ngờ cái người to xác nhất nhà lại bắt đầu dở chứng như trẻ con.

Dù có bao nhiêu tuổi, cánh đàn ông vẫn giữ mãi cái ánh nhìn lạc quan đầy ngây thơ, hệt như những đứa trẻ. Ngay cả khi đó là lý do gắn kết hai người lại với nhau từ thuở ban đầu, cô hoàn toàn thấu hiểu tại sao những người phụ nữ lại cảm thấy bực dọc và mong muốn họ hành xử cho ra dáng người trưởng thành.

“Và chẳng phải rất buồn cười khi một con cừu cứ cắm cúi đi thẳng đến bờ vực mà mặt vẫn cứ nhơn nhơn tự đắc sao?”

Holo tất nhiên không thể tâm sự chuyện này với đám bạn nhậu ở thị trấn, và rõ ràng cô cũng không có ý xấu gì với Lawrence, nên cô cứ giữ khư khư mọi bực dọc trong lòng.

Chắc hẳn sau khi trăn trở rất nhiều, cô mới quyết định tìm đến cái quán rượu khuất trong ngõ hẻm này và giả vờ như tình cờ gặp Elsa.

Mặc dù tính cách và lối sống của hai người hoàn toàn trái ngược, nhưng chính vì thế mà Elsa không thể nào ghét Holo được. Và bởi vì cả hai đều có những ông chồng và hoàn cảnh gia đình tương tự, cô không thể làm ngơ trước tâm trạng của sói thông thái.

Dường như ông giám mục hời hợt kia cũng đang nhúng tay vào, nên cô không thể nhắm mắt làm ngơ với tư cách là một thành viên của hàng giáo sĩ. Sẽ thật không thể chấp nhận được nếu để thanh danh của Giáo hội bị tổn hại thêm nữa so với tình trạng tồi tệ hiện tại.

“Cho thêm đồ uống nhé!” Elsa gọi thêm hai ly rượu.

~~~

Những gì Holo kể cho Elsa nghe không hẳn đã đi thẳng vào vấn đề, nhưng cô đã nắm bắt được ý chính khi kết hợp với những kiến thức của bản thân.

Thứ nhất, có rất nhiều thương nhân đang có mặt tại thị trấn để tham dự hội chợ lớn. Đây là cơ hội vàng để họ giải quyết vô số những vướng mắc tồn đọng, đặc biệt là khi vấn đề thuế quan được đưa ra bàn luận.

Các thương gia buôn rượu và bia vốn dĩ luôn đối đầu nhau. Đổi lại, giới buôn bia lại cạnh tranh gay gắt với các xưởng bánh mì vì cùng tranh giành nguồn nguyên liệu. Và theo truyền thống, các xưởng bánh mì cũng chẳng mấy ưa gì những người làm nghề đồ tể. Lắng nghe ý kiến phản đối của bên này đồng nghĩa với việc chuốc lấy sự phẫn nộ từ bên kia.

Nói chung, chân lý “kẻ thù của kẻ thù là bạn” rất được trọng dụng ở đây. Do đó, các nhóm không có mâu thuẫn lợi ích thường liên minh lại để đảm bảo những bất bình của họ được lắng nghe. Tuy nhiên, vị lãnh chúa địa phương, khoác trên mình bộ trang phục đỏ rực, lại thường xuyên đưa ra quyết định một cách độc đoán trong những vấn đề này. Thế nên, họ đành phải phó mặc cho số phận và bốc thăm, hoặc để những nhân vật có tiếng nói trong mỗi nhóm bỏ phiếu kín.

Vị giám mục của giáo phận Salonia thường nắm quyền định đoạt tại đây, nhưng bản thân phía nhà thờ cũng có những quyền lợi riêng liên quan đến nhiều hoạt động của thị trấn. Vì vậy, những người tham gia sẽ không dễ dàng tuân theo những gì họ phán quyết, nhất là khi họ là người chịu thiệt thòi trong thỏa thuận. Và rồi, bất ngờ thay, Lawrence xuất hiện. Anh là một người có uy tín lớn nhưng lại chẳng mấy liên quan đến bất kỳ phe phái nào. Do đó, tất cả mọi người đều bắt đầu đưa ra những lời hứa hẹn về phần thưởng hòng lấy lòng và tranh thủ sự ủng hộ của anh.

Đặc biệt, giới thợ mộc, những người đang khốn đốn vì mức thuế cao ngất ngưởng, đã tỏ ra vô cùng ráo riết trong việc thuyết phục Lawrence để giành được sự giảm thuế, nhưng Giáo hội lại thu lợi khổng lồ từ chính những khoản thuế đó, điều này giải thích tại sao vị giám mục lại cố gắng dụ dỗ Lawrence về phe mình bằng cách đưa ra những lời hứa hẹn hết sức hoang đường.

Lời đề nghị của ông là mua lại các đặc quyền trên một số vùng đất xung quanh Salonia—về cơ bản điều này biến Lawrence thành một quý tộc.

“Anh ta làm việc khá nhanh nhạy đấy.”

Sau khi nghe Holo tóm tắt sơ lược về diễn biến cuộc họp, Elsa bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về các chi tiết. Khi mặt trời ngả bóng, họ lại hẹn nhau tại một quán rượu nằm sát rìa quảng trường thị trấn. Không khí thị trấn càng thêm náo nhiệt khi hoàng hôn buông xuống, nên quán đã phải kê thêm nhiều bàn ghế gỗ dài ra tận ngoài trời để phục vụ những vị khách không thể chen chúc bên trong. Những người khoác trên mình bộ quần áo đi đường bụi bặm, những nông dân từ các vùng lân cận, và tất cả những ai từ xa đến đều hòa cùng người dân thị trấn tận hưởng một trong số ít những khoảng thời gian ăn mừng hiếm hoi trong năm.

Khi những người dự hội nhận ra Elsa, họ lập tức chỉnh lại tư thế và hạ giọng. Sau khi mỉm cười một cách lơ đãng và thờ ơ, cô chú tâm lắng nghe báo cáo của Holo.

“Cô có uống say suốt từ nãy đến giờ không đấy?”

Đến khi Elsa quay lại tìm Holo, trên bàn đã chễm chệ một ly rượu vang mà cô dám chắc không phải là ly đầu tiên, cùng một đĩa sườn được gặm sạch trơn.

“Cô ngốc quá. Đây là lời hứa hẹn sẽ biến anh ta thành một lãnh chúa sở hữu đất đai đấy, cô biết không. Tôi đã có linh cảm rằng tên ngốc đó có thể lại bị lừa, nhưng cũng có khả năng là không.”

Đúng là có khả năng đó.”

“Đôi khi thỏ cũng ngủ quên giữa đường mà.”

Có lẽ do Holo đã sống quá lâu, hoặc bản tính của cô vốn đã vậy, nên cô thường có cái nhìn bi quan và buồn bã về mọi thứ. Lawrence chính là mặt trời của cô, và sự tồn tại của anh thắp sáng những ngày tháng của cô.

“Và thế là, anh ấy đã quyết định tự mình tìm hiểu, bởi vì anh ấy không thể bỏ qua cơ hội đó khi biết đâu nó lại là một thương vụ hời.”

Tuy nhiên, Elsa lại băn khoăn liệu vị giám mục, trông có vẻ xuề xòa nhưng lại vô cùng sắc sảo, có khơi mào chuyện đó một cách tùy tiện như vậy hay không. Khả năng cao là Lawrence đang bị lừa, đúng như những gì Holo nghi ngờ ban đầu.

Hoặc cũng có thể, Holo không muốn làm dập tắt niềm vui sướng của Lawrence trước viễn cảnh trở thành quý tộc, nên cô đang cố tự thuyết phục bản thân rằng đó thực sự là một thỏa thuận béo bở.

Tất cả những gì Elsa có thể làm là đoán già đoán non về những bất đồng trong mối quan hệ của họ, nhưng dù sao đi nữa, điểm dung hòa mà cô tìm thấy đang ngồi ngay bên cạnh.

“Con bé này biết rất nhiều về khu vực này. Tôi đã chạy vội đi tìm nó ngay sau khi chúng ta chia tay đó.”

“Ừm... Ta không dám chắc mình hiểu rõ cách thế giới loài người vận hành, mặc dù...”

Cô gái ngồi cạnh Holo, co rúm người lại, vẫn cao hơn Holo dù cô đã khom lưng xuống rất nhiều—và tên cô ấy là Tanya.

Cô ấy là hóa thân của một con sóc, từng sinh sống trên ngọn núi bị nguyền rủa, ngọn núi trong truyền thuyết thuộc Giáo phận Vallan mà Elsa ban đầu cần sự giúp đỡ. Rõ là Tanya trông như thể cô ấy sẽ am hiểu lịch sử khu vực này trong vòng vài thế kỷ, vì vậy có lẽ đây là một lựa chọn đúng đắn.

Nhưng dù thế nào, Elsa vẫn nghĩ họ có thể chọn một địa điểm gặp gỡ lý tưởng hơn nơi này.

Cô dần nhận ra rằng những gã đàn ông xung quanh không dán mắt vào bàn của họ chỉ vì một người phụ nữ trong trang phục thánh chức—là Elsa—lại đang dành thời gian ở một nơi chè chén và vui vẻ. Họ đang ngắm nhìn Tanya, cô gái có mái tóc xoăn bồng bềnh và những đường cong đẫy đà mà cả Elsa lẫn Holo đều không có.

Bất kỳ người đàn ông nào tiến lại gần với ý định bắt chuyện với cô đều sẽ nhanh chóng nhận ra Holo, một nhân vật khá nổi tiếng trong thị trấn, và Elsa, người khoác trên mình bộ trang phục của Giáo hội, sau đó vội vàng rút lui với một nụ cười ngượng nghịu.

Holo dường như chẳng hề bận tâm chút nào, còn Tanya thậm chí còn không nhận ra mình đang bị chú ý, vì vậy Elsa quyết định không để tâm đến chuyện đó.

“Cô Tanya, cô có biết về Gia tộc Voragine không?”

Elsa đã thăm dò một số linh mục thuộc Giáo phận Vallan đang lưu lại thị trấn về những toan tính chi tiết của vị giám mục, sau đó quay trở lại nhà thờ để tra cứu biên niên sử của thị trấn. Những gì vị giám mục đã hứa hẹn với Lawrence là đất đai và các đặc quyền sở hữu từng thuộc về gia tộc Voragine.

Dĩ nhiên, đó sẽ là một cuộc giao dịch mua bán tước hiệu chứ không phải là sự nhượng quyền, nhưng ngay cả khi có tiền tấn, việc mua được một thứ như đặc quyền vẫn là điều vô cùng khó khăn, vì vậy chỉ riêng viễn cảnh có cơ hội mua được nó đã gần như là điều phi lý.

“Ồ, vâng, ta biết chứ. Họ từng rất nổi tiếng. Chắc cũng chưa lâu lắm đâu.”

Tanya vừa nhấp một ngụm rượu táo vừa nhấm nháp bánh mì lúa mạch. Nét không hài lòng thoáng qua trên khuôn mặt; cô ấy đặt miếng bánh xuống và lôi ra một chiếc túi nhỏ chứa đầy bánh mì hạt dẻ do cô ấy tự tay làm, rồi tiếp tục câu chuyện, gương mặt bừng sáng niềm vui.

“Chưa lâu lắm sao? Cụ thể là khi nào?”

Bánh mì hạt dẻ vốn chỉ để lót dạ cho qua cơn đói, thế nên khi Holo chứng kiến Tanya ăn nó một cách ngon lành, vẻ mặt cô nhăn nhó khi nhớ lại vị chát và đắng của nó.

“Ừm... Ta nghĩ là... trước khi sư phụ đến. Khi ngọn núi bị tàn phá ấy.”

“Nếu là trước khi các nhà giả kim đến, thì chắc hẳn đã hơn năm mươi năm, nhưng chưa đến một thế kỷ, đúng không?”

Những sinh vật không phải con người như cô ấy và Holo coi khoảng thời gian đó là ngắn ngủi; Elsa tự hỏi làm thế nào Holo có thể dễ dàng coi mình là một cô gái trẻ như vậy.

“Ta nghĩ đó là một anh hùng đã tiêu diệt một con rắn khổng lồ trườn qua mặt đất.”

Đôi tai sói của Holo khẽ giật giật dưới lớp khăn trùm đầu.

Dĩ nhiên đó là lúc Elsa nhận ra lý do tại sao họ lại nhìn cô bằng ánh mắt đó. Tuy nhiên, cô không hề tỏ ra bối rối, và hỏi Tanya: “Có ghi chép về truyền thuyết đó trong biên niên sử của Giáo hội. Chuyện đó có thực sự xảy ra không?”

“Ừm... Ta cũng không chắc nữa? Ta không thực sự thích những không gian mở, nên rất hiếm khi ta đi qua đường này. Ta chỉ nghe được từ những người đến đào kim loại trên núi thôi.”

“Tôi hiểu rồi.” Elsa gật đầu.

Bây giờ đến lượt Holo lên tiếng, và cô có vẻ hơi ghen tị.

“Đó không phải là con rắn đã bảo vệ ngôi làng của cô sao?”

Tanya chớp mắt, đưa mắt nhìn tới lui giữa Holo và Elsa.

Không thể trả lời Holo ngay lập tức, Elsa nhấp một ngụm rượu vang, vị rượu đã trở nên chua và bay mất cồn do bị hâm nóng quá đà.

“Tôi không biết.”

Câu trả lời của cô chứa đựng cả một thế giới ý nghĩa.

Thứ nhất, cô không chắc liệu con rắn khổng lồ này có phải là con rắn được tôn thờ như thần hộ mệnh ở quê hương Tereo của cô hay không.

Thứ hai, cô cũng không chắc liệu con rắn đó có thực sự bảo vệ ngôi làng của cô hay không.

“À, cô quả là một người thuộc về Giáo hội từ đầu đến chân.”

Trong lời nói của Holo có đầy gai, và Tanya thu mình lại, cảm nhận được sự bất hòa trong không khí, nhưng Elsa đã phớt lờ điều đó.

“Không thể biết được nó đã đi đâu, liệu nó có thực sự tồn tại hay không, và nếu có thì nó đang làm gì trong làng. Cá nhân tôi, thì khi gặp cô, tôi đã tin phần nào rồi.”

“Cái gì? Tôi đã làm gì cơ?”

Cảnh dầu mỡ từ miếng thịt nướng dính ở khóe miệng Holo khiến Elsa nhớ đến những thành viên khác trong gia đình mình và cách họ hành xử trong bữa ăn.

“Rằng có lẽ nó đã quyết định ngủ đông một chút nhưng lại thành ra một giấc hơi dài.”

Trước khi gặp Holo, Elsa vẫn luôn gắn cho những thực thể siêu nhiên trong các truyền thuyết ngoại đạo trên toàn thế giới một phẩm chất uy nghiêm. Nhưng khi tình cờ gặp Holo và có cơ hội nhìn thoáng qua thế giới của họ, cô nhận ra rằng dù có sự khác biệt về nhận thức, họ về cơ bản vẫn giống những con người bình thường.

Cô lấy ra một chiếc khăn tay nhỏ từ trong túi, rướn người qua bàn, lau khóe miệng cho Holo đang tỏ vẻ khó chịu trước khi tiếp tục chia sẻ suy nghĩ của mình. “Tôi chắc chắn rằng sẽ rất cô đơn nếu phải ngủ ở một nơi quá đỗi yên tĩnh.”

Holo ngày càng tức giận với những hàm ý trong lời nói đó, nhưng Elsa chỉ cười khúc khích và quay sang nhìn Tanya. “Tôi nghĩ cô cũng không biết đâu, cô Tanya. Có một truyền thuyết về một con rắn khổng lồ ở ngôi làng nơi tôi sinh ra.”

“Ừm... Ồ!”

“Nhưng đừng lo lắng về điều đó. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó. Tất cả những gì còn lại là một hang động lớn, nơi người ta đồn rằng nó từng sinh sống mà thôi.”

Tanya vẫn cúi đầu ra chiều hối lỗi, nên Elsa tiếp tục với giọng điệu khách quan.

“Trở lại chủ đề chính, thì nhờ chiến công tiêu diệt con rắn khổng lồ từng gieo rắc nỗi kinh hoàng trên vùng đồng bằng này, gia tộc Voragine đã được ban thưởng một phần đất đai và được phong tước quý tộc. Nhà thờ ở đây cho biết Chúa đã truyền sức mạnh cho vị anh hùng trong trận chiến với con rắn.”

Holo chế nhạo.

“Tôi chưa bao giờ được tận mắt nhìn thấy vị Chúa này.”

“Quả thực vậy. Tôi tin rằng truyền thuyết được tạo ra để cả hai bên củng cố quyền lực lẫn nhau. Tôi nghĩ mối đe dọa từ những kẻ ngoại đạo khá mạnh mẽ ở khu vực này vào thời điểm đó, và Giáo hội cần một cách để khẳng định sự hiện diện của mình tại đây. Họ muốn bất kỳ lời tung hô nào, dù là nhỏ nhất. Ngược lại, người được xưng tụng là anh hùng có lẽ là một chiến binh trẻ tuổi muốn có một danh nghĩa hợp pháp để cai trị như một vị lãnh chúa, nên rất có thể ông ta muốn có sự hậu thuẫn của Giáo hội trong chuyện này.” Đó không phải là một tình huống bất thường, nhưng có một điểm đáng lưu ý. “Điều tôi thấy kỳ lạ là gia tộc Voragine lại nắm giữ lợi ích to lớn từ thuế quan của thị trấn này. Có phải đó cũng là phần thưởng vì họ đã tiêu diệt con rắn khổng lồ không? Hay ít nhất biên niên sử ghi lại như vậy.”

“Mm?” Holo nhíu đôi lông mày thanh tú và liếc nhìn Tanya bên cạnh.

Có khả năng cô chỉ nhìn Tanya để xem cô ấy có biết điều gì không, nhưng khi Tanya lôi ra miếng bánh mì hạt dẻ thứ hai, cô ấy lại rụt vai lại như thể mình đã làm điều gì sai trái.

“Và có vẻ như gia tộc Voragine đã tuyệt tự sau một hoặc hai thế hệ. Toàn bộ đất đai, đặc quyền và nguồn thu từ thuế quan sau đó đều được hiến tặng cho Giáo hội. Anh Lawrence...” Elsa ngập ngừng một lúc rồi nói tiếp, “...đã được hứa hẹn trao cho các đặc quyền của gia tộc, những nguồn thu lợi ích, toàn bộ tước hiệu và quyền được cư trú trong pháo đài của họ như một phần thưởng.”

“Hmm...” Một nét nghiêm nghị thoáng qua trên khuôn mặt Holo khi cô trầm ngâm suy nghĩ. “Phần thưởng này quá hậu hĩnh.”

Vẻ mặt của cô mách bảo Elsa rằng cô tin chắc người chồng tốt bụng của mình sắp sửa rơi vào một cái bẫy khác.

“Đây có vẻ không phải là một vụ chuyển nhượng đơn thuần, vì vậy tôi không thể nói nhiều về khía cạnh đó. Sẽ tốn một khoản tiền rất lớn. Việc có thể trực tiếp mua đứt một thứ như thế này chẳng khác nào một phép lạ—ngay cả vị thương gia vĩ đại nhất với két sắt khổng lồ nhất cũng khó lòng làm được điều này một cách bình thường. Vì vậy, theo khía cạnh đó thì? Vâng, nó rất hậu hĩnh. Suy cho cùng, nếu anh ấy xoay sở để hòa giải được cuộc tranh cãi về thuế quan này, thì những gì Đức Giám mục đang nói có nghĩa là anh ấy sẽ có thể trở thành một quý tộc sở hữu đất đai.”

“Và anh ấy đang rất phấn khích.” Holo thở dài một tiếng, bĩu môi.

Nhưng Elsa nhận ra rằng những gì cô đang chứng kiến không phải là sự tức giận. Holo không khó chịu vì Lawrence bị mờ mắt bởi những lời hứa hẹn quá đỗi viển vông. Dường như cô buồn bã vì sẽ phải dập tắt sự phấn khích của người bạn đời khi anh đang vui sướng về một tương lai tươi sáng.

Đúng là Lawrence hết lòng chiều chuộng Holo, nhưng vợ anh cũng không phải là người kém cỏi.

Elsa có một hình dung mơ hồ về Holo khi cô cai quản vụ thu hoạch lúa mì trong ngôi làng nhỏ của mình. Đó hẳn là một khoảng thời gian yên bình, giống hệt như cảnh tượng ấm áp của một đứa trẻ nài nỉ mẹ kể chuyện trước giờ đi ngủ.

Khi Holo đang trầm ngâm suy nghĩ, Tanya, người nãy giờ vẫn đang nhấm nháp chiếc bánh mì hạt dẻ, bỗng nhiên ngước lên như vừa nhớ ra điều gì đó. “À, về con rắn...”

“Cô nhớ ra điều gì sao?”

“Vâng, vâng. Ta nhớ từng thấy mọi người phàn nàn rằng họ muốn bán tất cả số kim loại khai thác được, nhưng họ không thể buôn bán suôn sẻ với những vùng đất xa xôi vì con rắn. Ta nhớ điều đó vì ta đã nghĩ, Đáng đời các người.”

Giọng điệu của Tanya ẩn chứa một chút giận dữ, như thể cô ấy đang nhớ lại cái thời con người tàn phá ngọn núi. Cô ấy cắn mạnh một miếng bánh mì hạt dẻ.

“Phải rồi, sẽ là một rắc rối lớn nếu một con rắn khổng lồ lưu lại trong khu vực của mình. Tôi sẽ sợ hãi lắm nếu nó có độc.”

“Em vẫn mơ thấy mình bị rắn nuốt chửng ngay cả khi chỉ nhìn thấy một con rắn nhỏ xíu mà.”

Elsa không hoàn toàn bị thuyết phục bởi cuộc trò chuyện của họ.

“...Các cô có tấn công con người không?”

Khi cô thu thập những câu chuyện về các vị thần ngoại giáo, lần duy nhất cô nghe nói về việc họ tấn công con người là khi con người tàn phá nơi tôn nghiêm của họ, mặc dù vẫn có một vài ngoại lệ.

Dù vậy, hình ảnh một con rắn khổng lồ đi lang thang trên bình nguyên và tấn công người dân một cách vô cớ không hề phù hợp với ấn tượng của cô về Holo và những sinh vật phi nhân loại khác mà cô từng gặp.

“Tôi không làm những chuyện như thế.” Holo đáp trả một cách hậm hực.

Tanya đặt một ngón tay lên cằm và nói: “Biết đâu nó đã vươn mình nằm dài trên cánh đồng để tắm nắng chăng?”

Khi cô ấy nhắc đến điều đó, cả Elsa và Holo đều hình dung ra cùng một cảnh tượng.

Khi một con rắn đủ lớn để nuốt chửng một con bò vươn mình che khuất toàn bộ bình nguyên, sự tồn tại của nó thôi cũng đủ để cản trở giao thương theo cách này hay cách khác, ngay cả khi nó không làm điều gì đặc biệt xấu xa.

“Khi chúng tôi rời ngọn núi của cô để đến thành phố này, chúng tôi đã có được tầm nhìn khá tốt về vùng đất, nhưng nó phải lớn đến mức nào mới chiếm được cả bình nguyên này vậy?” Holo hỏi.

“Trong những câu chuyện về các vị thần ngoại giáo mà tôi thu thập được, tôi tìm thấy một truyền thuyết về một con rắn dài đến nỗi thời tiết ở đầu nó khác biệt so với thời tiết ở đuôi nó,” Elsa kể.

“Nếu một con rắn như thế thực sự tồn tại, thì nó đã có thể siết cổ và giết chết Gấu Săn Trăng rồi.”

Holo nói đúng, nhưng Elsa nhận thấy Tanya có vẻ buồn bã—cô ấy là người nhắc đến con rắn vì nghĩ nó có thể giúp ích—nên cô vội chuyển chủ đề.

“D-dù sao đi nữa, một con rắn khổng lồ bất thường trườn quanh cũng sẽ khiến việc giao thương đơn giản trở nên vô cùng khó khăn. Rất có lý khi nói rằng Người hùng Voragine đã tiêu diệt con rắn, từ đó việc giao thương mới có thể nối lại. Việc quyền thu thuế cũng trở thành vật thế chấp trong tình huống đó cũng hoàn toàn hợp lý.”

Sau khi liếc nhìn Elsa một cách cẩn trọng, Tanya nở một nụ cười nhẹ nhõm với cô.

“Chà, tôi cũng không hiểu lắm, nhưng nghe có vẻ như một số lợi ích thu được từ những nỗ lực xa xưa đang được phơi bày trước mắt tên ngốc đó. Thế nhưng... chức vị lãnh chúa, phải không? Tên ngốc đó có thể kham nổi một thứ quá đỗi xa xỉ như vậy sao? Không phải là chúng ta sẽ bán nhà tắm ở Nyohhira đâu...”

“Cái gì?! Đức cô Holo sẽ định cư ở đây sao?” Đôi mắt Tanya mở to kinh ngạc, ánh mắt ngập tràn niềm vui. “Em sẽ vô cùng hạnh phúc nếu cô sống gần đây đó ạ!”

“Đồ ngốc, chuyện đó sẽ không ba—À mà, ta cũng không biết nữa. Ta không biết đâu. Đừng nhìn ta bằng vẻ mặt đó.”

Ngọn núi mà Tanya từng sống một cách yên bình đã bị tàn phá khi người ta tiến hành khai thác mỏ, và khi các mạch kim loại cạn kiệt, cô ấy bắt đầu trồng lại cây, từng chút từng chút một. Đó là lúc cô ấy kết bạn với những nhà giả kim tình cờ ghé ngang qua, nhưng họ cũng rời đi mà không để lại lời nhắn nào về nơi họ đến, và cô ấy vẫn vui vẻ chờ đợi họ trở về suốt thời gian qua.

Là lẽ dĩ nhiên khi cô ấy đã trở nên gắn bó với Holo, và Holo cũng lo lắng cho cô ấy.

Dù Tanya trông có vẻ lớn tuổi hơn Holo, Holo lại dỗ dành cô ấy như thể đối phương là một người em gái to lớn hơn nhiều. Khung cảnh này có phần ngớ ngẩn nhưng cũng đủ để mang đến một nụ cười cho Elsa; khi đang mỉm cười, cô tình cờ phát hiện một nhóm nhỏ người phía sau cặp đôi phi nhâ. Họ là những thương nhân ăn vận bảnh bao, vừa bước ra khỏi tòa thị chính, nơi diễn ra một cuộc họp vô cùng quan trọng tại Salonia. Họ bắt tay nhau, vươn vai và đấm lưng sau khi thoát khỏi cuộc họp kéo dài.

Elsa nhận ra một hình bóng quen thuộc trong đám đông, và Holo hừ mũi trước khi quay lại.

“Mặc dù tôi cực kỳ ghét phải thừa nhận, nhưng có lẽ chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc lắng nghe câu chuyện từ phía tên ngốc rồi.”

Mặt trời đang dần khuất bóng, những chiếc đèn lồng bắt đầu được thắp sáng khắp quảng trường. Đám đông khiến tầm nhìn bị hạn chế, nhưng hình ảnh ba người phụ nữ ngồi ngoài một quán rượu lại nổi bật như một cái gai trong mắt. Lawrence đã nhận ra họ trước khi Holo kịp gọi anh; một thoáng ngạc nhiên lướt qua trên khuôn mặt anh trước khi anh tiến lại gần với một nụ cười rạng rỡ và một cái vẫy tay.

~~~

“Một bữa tiệc thật thú vị đấy nhỉ.”

Lawrence rõ ràng rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy Tanya, nhưng anh nhanh chóng lấy lại vẻ điềm tĩnh, như bất kỳ một thương gia dạn dày kinh nghiệm nào.

“Em không uống quá nhiều đấy chứ, Holo?”

“Anh đúng là một tên ngốc.”

Holo dường như tỏ ra không hài lòng khi gặp chồng mình, nhưng khuôn mặt cô lại thoáng chút ửng hồng. Dĩ nhiên Lawrence chỉ phản ứng bằng một cái nhăn mặt nhẹ trước khi rút ví tiền từ thắt lưng ra và đặt thẳng lên bàn trước mặt họ.

“Vì có cô Elsa ở đây nên anh sẽ để thứ này lại với em nhé.”

Dù đây là lời đề nghị thanh toán tiền đồ uống cho họ, Elsa vẫn không khỏi ngạc nhiên trước tài ăn nói lưu loát của anh.

“Chà, tôi không muốn làm gián đoạn cuộc trò chuyện buổi tối đầy thú vị của mọi người đâu,” anh nói, định bụng rời đi. Bản năng chú cừu mách bảo anh nên rút lui.

Nhưng chính nàng sói Holo đã ngăn anh lại.

“Bọn em đang uống vì đang nói chuyện về anh đấy.”

“…”

Lawrence cố gắng nặn ra một nụ cười rạng rỡ bằng lớp mặt nạ thương gia của mình, nhưng anh không thể làm được vì linh cảm có điều gì đó không ổn với Holo.

“Chà, ừm…”

“Ngồi xuống,” Holo ra lệnh, và Tanya, người đang ngồi cạnh cô, vội vã rời khỏi ghế, đi vòng qua bàn, thận trọng ngồi xuống cạnh Elsa. Mùi hương thoang thoảng từ Tanya mang đậm hơi thở của rừng sâu, ngọt ngào và sâu lắng, không giống bất kỳ loại nước hoa nào, và Elsa cuối cùng cũng hiểu tại sao cô ấy lại thu hút nhiều sự chú ý từ đàn ông đến vậy.

“Tôi có nên cầu nguyện không?”

Lawrence rõ ràng không trông đợi điều gì vui vẻ từ cuộc trò chuyện này, đặc biệt là khi Holo buồn bã nâng ly rượu lên môi.

Nhưng Elsa nhận ra vẻ mặt ủ rũ của Holo là vì cô đang cân nhắc cách mở lời về chủ đề này với Lawrence.

Không muốn chờ đợi lâu hơn, Elsa thở dài ngắn gọn và nói: “Holo tìm đến tôi vì lo lắng rằng Đức Giám mục của Salonia đang ủ mưu chẳng lành.”

Lawrence lập tức nhận ra ngay nạn nhân đầu tiên trong âm mưu này chính là anh.

“Có phải về chuyện tước hiệu không?” Lawrence hỏi, và Holo hậm hực quay đi một cách đầy kịch tính. “Có phải cô ấy đang nghĩ rằng… một vị trí bấp bênh sẽ dễ dàng bị cướp mất hơn không?”

Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một màn tương tác đã diễn ra vô số lần giữa hai người họ kể từ ngày đầu gặp gỡ.

Một nụ cười gượng gạo rõ ràng nở trên khuôn mặt Lawrence, hệt như một gã thương gia, và anh thở dài.

“Tôi đã tính toán thiệt hơn gấp đôi—gấp ba lần rồi, và tôi biết vị giám mục đó có những động cơ riêng.”

“Đồ ngốc,” cuối cùng Holo cũng lên tiếng, quay hẳn người lại đối mặt với anh. “Đất đai? Một danh xưng quý tộc? Những thứ đó làm sao có thể rẻ mạt được. Anh định bán nhà tắm sao?”

Cô là một hóa thân của loài sói, từng được xưng tụng là Hiền giả Sói—cô chẳng màng đến bất kỳ danh vọng nào mà thế giới loài người mang lại. Dù thoạt nhìn có vẻ như vậy, nhưng nàng sói yêu thích thịt thà và những ly rượu hơn cả những buổi yến tiệc lộng lẫy này thực chất lại không hề khao khát những thứ đó.

Lý do Elsa khiển trách Holo như một đứa trẻ vì lối sống luộm thuộm của cô là do Holo không có chút kiêu căng, ngạo mạn nào đáng để bận tâm, và giữa họ có một bầu không khí thoải mái khi cả hai cùng chia sẻ quan điểm về rất nhiều thứ.

“Anh Lawrence, tôi không nghĩ Đức Giám mục sẽ đưa ra một ý tưởng chủ yếu mang lại lợi ích cho người khác đâu. Dù ngài ấy có vẻ phù phiếm và cơ hội, ngài ấy rất tàn nhẫn.”

Mặc dù cô thường ngần ngại khi nói xấu những người có chức vụ cao trong Giáo hội, nhưng đó là cảm nhận chân thật của cô. Lawrence có vẻ như co rúm lại trước cái nhìn của Holo và Elsa, giống như một gã thương nhân đang bị tra hỏi tại trạm kiểm soát.

“À, ừm… Mọi người có phiền nếu tôi thanh minh một chút không?”

Elsa nhìn Holo, và Holo đang tức tối cắm những chiếc răng nanh vào miếng thịt nướng của mình.

“Tôi đang tò mò muốn nghe xem Đức Giám mục đã dùng những lời nịnh nọt gì với anh đấy.”

Lawrence đáp lại bằng một nụ cười gượng gạo trước lời nói của Elsa và trả lời: “Tôi sẽ không phải trả một đồng bạc nào cả.”

“Cái gì?” Holo lắp bắp trong sự hoài nghi.

“Ngài ấy đề nghị rằng, để đổi lấy tước vị, quyền thu thuế đi kèm với nó, và quyền sử dụng đất đai ở vùng Salonia, tôi sẽ phải trả một khoản tiền cố định cho Giáo hội hàng năm.”

“…”

Holo nheo mắt, nhìn Lawrence với vẻ bối rối, trước khi quay sang nhìn Elsa.

“Tôi hiểu rồi,” Elsa nói. “Điều đó có nghĩa là ngài ấy không đặc biệt quan tâm đến các đặc quyền của Giáo hội, miễn là số tiền chảy vào túi mình hàng năm là một con số cố định.”

“Những tước vị đó hiện đang bị phủ bụi ở đâu đó trong nhà kho của nhà thờ. Đức Giám mục chẳng mất mát gì cả.”

Điều đó có nghĩa là sẽ không ai phải chịu thiệt thòi về mặt tài chính trong cuộc trao đổi này, và giám mục sẽ có thêm một đồng minh hùng mạnh là Lawrence. Đó là một thỏa thuận dễ hiểu, một thỏa thuận mà vị giám mục rất có khả năng sẽ đưa ra.

Nhưng đối với Elsa, người đã từng vật lộn với sổ sách của Giáo hội khắp mọi miền trong bối cảnh đầy biến động bao quanh Giáo hội hiện tại, cô cảm thấy có một sự bất an, một điều gì đó khiến cô không hoàn toàn bằng lòng.

“Nếu ngài ấy đưa ra lời đề nghị này với tôi, tôi sẽ có động lực để giữ mức thuế ở mức cao. Cô thấy đấy, tôi sẽ phải trả tiền cho ngài ấy hàng năm. Và ngay cả khi nhà thờ quyết định hạ mức thuế trong tương lai, họ vẫn sẽ đòi hỏi tôi một số tiền tương đương.”

Toàn bộ cuộc khủng hoảng nợ nần ở thị trấn đã bắt đầu khi vị giám mục vội vàng tống một thương gia vào tù vì một món nợ, nhưng ông lại tỏ ra vô cùng sắc sảo trong những chuyện này. Quả là một kẻ vô lại thực sự. Elsa thở dài.

“Vậy anh định sẽ đứng về phe Đức Giám mục sao?”

Khi Elsa đặt câu hỏi, Holo, người không bận tâm đến tiểu tiết nhưng lại vô cùng nóng lòng muốn nghe câu trả lời ngắn gọn, quay sang nhìn Lawrence trong khi cắn một miếng thịt mới. Có vẻ như cô đang ngầm đe dọa sẽ làm điều tương tự với anh nếu cô không vừa lòng với câu trả lời.

“Tôi đang hơi băn khoăn.”

Điều khiến Elsa ngạc nhiên là cô không ngờ anh lại đưa ra một câu trả lời lấp lửng như vậy.

“Sự có mặt của cô Tanya hẳn là có nghĩa… ba người đang tìm hiểu về nguồn gốc của các loại thuế, phải không?”

Tanya, người nãy giờ ngồi im lìm, không thực sự tham gia vào cuộc trò chuyện, lập tức phấn chấn hẳn lên.

“Một số hàng hóa trong thành phố này bị áp mức thuế cao một cách kỳ lạ,” Lawrence giải thích. “Họ nói rằng điều đó bắt nguồn từ công lao của Người hùng Voragine.”

“Ông ta là người đã đánh bại con rắn khổng lồ.” Tanya nở nụ cười thân thiện, vì cô ấy hiểu được nội dung cuộc trò chuyện này.

Lawrence mỉm cười đáp lại và tiếp tục: “Chuyện đó đã xảy ra từ rất lâu rồi. Và cô biết người ta thường nói gì không—đừng đổ rượu mới vào bầu da cũ.”

“...Ý anh là mọi người nghi ngờ về những nguồn gốc này sao?”

“Không ai thích đóng thuế cả. Bất kỳ sự cáo buộc mạnh mẽ nào cũng cần có một lý do đủ sức thuyết phục. Việc thuyết phục người dân bằng một nhân vật thần thoại, người có thể thực sự tồn tại hoặc không chỉ có thể giải quyết được một phần vấn đề mà thôi.”

Vị giám mục tinh ranh có lẽ đã nhận ra rằng sự uy nghiêm của một truyền thuyết cổ xưa đang bị lu mờ.

Sau đó, ông bắt đầu vắt óc suy nghĩ, cố gắng tìm ra một kế sách để vẫn duy trì được nguồn thu nhập cũ dù đã lường trước việc thuế quan sẽ giảm trong tương lai.

Và giống như cách ông đã trút gánh nặng công việc của nhà thờ lên vai Elsa, ông đang cố gắng tô điểm cho một ngọn nến sắp tàn và lừa gạt Lawrence, đảm bảo với người thương gia rằng ngọn nến đó sẽ là của anh, miễn là nó tiếp tục soi sáng nhà thờ.

“Nếu có những cơ sở vững chắc cho các khoản thuế, tôi tin rằng việc chấp nhận lời đề nghị này sẽ không phải là một ý kiến tồi. Nhưng nếu thực sự nó hoàn toàn là một câu chuyện bịa đặt, thì khả năng cao anh sẽ là người chịu thiệt thòi ở đây, đặc biệt là khi một ngày nào đó thuế quan chắc chắn sẽ giảm.”

Nếu thu nhập từ thuế giảm đi mặc dù đã cam kết đóng một khoản phí cố định mỗi năm, thì bất kỳ ai sở hữu những lợi ích đó sẽ phải gánh chịu những khoản lỗ khổng lồ. Lời đề nghị dành cho Lawrence không phải là không có rủi ro.

“Giống như thể chúng ta có nhiệm vụ phải tìm ra con rắn khổng lồ này vậy,” Holo quay sang Lawrence với vẻ mặt thất vọng, khuỷu tay cô chống vững trên bàn, có lẽ vì say hoặc bực bội.

Sau đó Lawrence mỉm cười với Holo trước khi quay sang Elsa.

“Và chắc hẳn Chúa đã nhúng tay vào chuyện này hôm nay, bởi vì tình cờ lại có một người bản địa đến từ một ngôi làng có truyền thuyết về rắn ngay tại đây.”

Lawrence hầu như đã nhìn thấu âm mưu của giám mục.

Và thêm vào đó, anh biết mình có rất nhiều tài nguyên trong tầm tay.

Ẩn sau những nụ cười lịch sự của họ là một cuộc đấu trí giữa Lawrence và giám mục.

Người chiến thắng dĩ nhiên sẽ thu về lợi nhuận khổng lồ, nhưng đối với Lawrence, nó còn đi kèm với một phần thưởng thêm là được thể hiện trước Holo.

Elsa quay sang chạm mắt với Holo, và cô nhún vai.

Holo nốc cạn ly rượu của mình để lấn át đi lời thốt lên của mình: “Các người đúng là không thể tin nổi.”Spice%20and%20Wolf%20Volume%2023%20-%20PDF%20Room-113_page-0001.jpg?updatedAt=1751030167776* * *

Nếu truyền thuyết về con rắn khổng lồ hóa ra là sự thật họ có thể cung cấp bằng chứng xác đáng, thì đó sẽ là một lý do đanh thép để họ duy trì mức thuế như hiện tại. Nhưng ngược lại, nếu truyền thuyết chỉ là một câu chuyện bịa đặt, thì thị trấn sẽ rất khó để giữ nguyên mức thuế cao ngất ngưởng trong lịch sử. Đó là tóm tắt của tình hình, nhưng Elsa vẫn còn một điều muốn hỏi Lawrence.

Ngày hôm sau cuộc nói chuyện ở quảng trường, hội chợ lớn của Salonia và lễ hội sắp tới đều bước vào giai đoạn cuối. Lễ hội của họ không có nguồn gốc lâu đời như hầu hết các nơi khác, thay vào đó nó chỉ đơn thuần là để ăn mừng vụ thu hoạch trong năm, để tổ chức một bữa tiệc lớn cuối cùng trước khi mùa đông u ám kéo đến, và để tôn vinh một vị thánh đã được tạo ra từ trước để phù hợp với buổi lễ, vì vậy về cơ bản nó là một bữa tiệc lớn và bình dị.

Bởi vì Holo là người giúp chọn lựa các loại rượu sẽ phục vụ tại buổi lễ bế mạc, những người dân thị trấn đã lôi kéo cô vào việc giúp chuẩn bị cho lễ hội từ sáng sớm tinh mơ. Cô đã đi luyện tập nhanh một bài phát biểu mang tính lễ nghi và chỉnh sửa lại bộ trang phục mà cô sẽ mặc vào ngày hôm đó.

Giám mục cũng phụ trách việc điều hành lễ hội, vì vậy ông đã vắng mặt tại các cuộc họp về thuế quan vào ngày hôm đó.

Và thế là Elsa, người tình cờ bắt gặp Lawrence đang lơ đãng ngắm nhìn dân thị trấn chuẩn bị sân khấu cho buổi tiệc ở quảng trường từ một quán rượu gần đó, đã mời anh vào nhà thờ.

“Anh nghĩ sao về các khoản thuế?” cô hỏi.

“Tôi nghĩ gì, hmm?”

Lawrence dành cho cô một vẻ mặt giả vờ ngây ngô rất mang phong cách thương gia, rồi đập chiếc búa xuống một quả óc chó. Họ ngồi cùng nhau ở một góc nhà thờ trên sàn đá, cùng nhau đập vỡ những quả óc chó mà Tanya đã mang từ núi của cô ấy về làm quà lưu niệm.

“Theo lẽ công bằng ấy,” cô giải thích thêm.

“Ý cô là sao?”

Những vỏ quả óc chó, sau khi được rang cho đến khi vừa nứt ra, rất dễ dàng bị tách ra bằng búa.

Lawrence thích thú lấy phần ruột của quả óc chó ra, cứ như thể công lý hay sự thật được cất giấu bên trong đó vậy.

“Thuế quan chi trả cho việc sửa chữa đường sá, bánh xe nước, quản trị thành phố và những lính gác giữ gìn trật tự. Nhưng không phải mọi đồng xu thu được từ thuế đều dành cho những thứ đó,” cô nói.

“Đôi khi chúng cũng lấp đầy túi của người khác. Giống như một con ruồi trâu đang no nê máu, phải không?”

Elsa vung búa xuống, làm vỡ một quả óc chó.

“Nhà thờ này không cần thêm tiền. Và giá gỗ rẻ hơn có nghĩa là mọi người có thể sống trong nhà với chi phí thấp hơn.”

“Và mùa đông sắp đến rồi. Mọi người sẽ cần đốt lò sưởi.”

“Và như vậy, là công lý.”

Lawrence không hoàn toàn là một thương nhân nhẫn tâm, nhưng điều đó không có nghĩa là anh hoàn toàn vị tha.

“Tôi hiểu ý cô, cô Elsa, nhưng trong những tháng tới khi không có công việc đồng áng, những người dân làng chuyên đào than bùn có thể muốn giá gỗ vẫn ở mức cao.”

Giống như việc của nông dân là chở gỗ đến các ngôi làng khai thác than bùn, nghề buôn gỗ thuộc về những thương gia giàu có.

Một khi anh đưa ra quan điểm rằng thuế quan đứng về phía người dân, thì rất khó để nói bên nào là bên nào.

“Nhưng chẳng phải anh đã nói thuế ở đây quá cao sao?”

Lawrence nhìn Tanya, cô gái đang ngồi cách biệt họ để đập vỡ quả óc chó cùng một số cô gái khác trong thị trấn, ngay cả khi anh cũng đang làm như vậy. Các cô gái, có vẻ như đã chán ngấy với công việc này, thay vào đó lại đang chải chuốt mái tóc bồng bềnh của Tanya, tết tóc và bới tóc lên theo ý thích với những tiếng cười rúc rích.

“Đúng vậy. Cao một cách không tự nhiên luôn.”

Elsa, người đã sống trong một ngôi làng nhỏ và từng rất lo lắng về vấn đề thuế má, coi thuế như một thứ khiến con người phải chịu đựng. Việc nhìn thấy Lawrence nỗ lực duy trì mức thuế cao như vậy để lại trong cô một cảm giác khó chịu.

“Anh không nghĩ chúng ta nên hạ mức thuế xuống sao?”

Không giống như Holo, Lawrence không phải là kiểu người né tránh ánh mắt của Elsa nếu tình huống không phù hợp với anh. Anh nhìn lại cô, rồi nở một nụ cười nhẹ.

“Thị trấn này có lịch sử của riêng nó. Đây không phải là thứ mà một người ngoài có thể dễ dàng can thiệp.”

Anh hẳn đã cảm nhận được sự tức giận đang toát ra từ cô—Sao anh dám nhìn thẳng vào mắt tôi và nói những lời ngụy biện như vậy—bởi vì cuối cùng anh đã quay mặt đi.

“...Đó là lý do tại sao tôi nghĩ chúng ta nên tìm hiểu lịch sử của họ.”

Anh liếc nhìn Tanya và các cô gái trước khi ngước nhìn lên trần nhà thờ cao vút. Những người phụ nữ từ bên ngoài bước vào mang theo bánh mì mới nướng. Một mùi thơm ngon lan tỏa trong không khí; những người phụ nữ để lại bánh mì, lấy vài quả óc chó rồi rời đi. Họ đã nướng bánh mì từ trước khi mặt trời mọc để chuẩn bị cho lễ hội vào ngày hôm sau. Tuy bánh mì hạt sồi không phải là thứ Elsa sẵn sàng ăn, cô đoán rằng bánh mì với quả óc chó khá ngon.

“Anh có tin rằng con rắn khổng lồ thực sự tồn tại không?”

Vợ của Lawrence là một con sói.

Khi Elsa hỏi anh điều đó, thay vì nụ cười thương gia, anh dành cho cô một nụ cười thật sự.

“Thực ra tôi muốn dựa vào cô vì tôi nghĩ cô sẽ rất háo hức giúp tôi.”

Thần bảo hộ của Tereo thực tế từng là một con rắn.

“Tôi phục vụ vị Chúa của Giáo hội.”

“Phải rồi.”

Elsa, dĩ nhiên, thất vọng khi anh gạt cô đi bằng một câu trả lời vô cảm.

Mặc dù anh chỉ giống như một con cừu ngốc nghếch khi ở cùng Holo, anh lại giống một thương nhân lươn lẹo hơn rất nhiều khi cô đối xử với anh một chọi một như thế này.

“Cô Holo dường như rất lo lắng vì anh đang quá phấn khích.”

Tất nhiên, cô không thể nói với anh rằng Holo cảm thấy ngột ngạt trước ham muốn khoe khoang của anh, nhưng có lẽ họ đã thảo luận về điều đó đêm qua.

Elsa không thể phân biệt được gì qua thái độ thương nhân của anh, nhưng ít nhất, anh không thể phủ nhận những gì cô đã nói.

“Tôi... không thể phủ nhận rằng tôi đang rất phấn khích. Cô hiểu mà, đây là một phần thưởng vượt ngoài mọi giấc mơ hoang đường nhất của tôi.”

Anh không có vẻ gì là đang nói dối, và điều đó làm Elsa thực sự bị sốc.

“Tôi không biết anh lại muốn những thứ như vậy đấy.”

Cô khó lòng hình dung anh đảm nhận vai trò chủ đất, nhưng bản thân Lawrence lại nở một nụ cười rụt rè.

“Tôi nghĩ cô cũng sẽ thấy điều này ngớ ngẩn thôi, cô Elsa.”

“...Bằng cách nào cơ?”

Lawrence đập vỡ quả óc chó và lấy phần ruột bên trong ra.

“Những đặc quyền của gia tộc Voragine đi kèm với ảnh hưởng đáng kể lên vùng đất này. Chính ra đó mới là thứ mà tôi nhắm tới.”

“...Tôi không hiểu.”

Elsa nhận thấy anh không cố tình che giấu điều mình đang nói, và đó chỉ là vì việc giải thích có vẻ khó khăn, nhưng cô vẫn không thể mường tượng được ý anh. Khi cô đang suy nghĩ, Lawrence tiếp tục, như thể đang cố gắng lảng tránh chủ đề.

“Ừm, hiện tại đó chỉ là một sự tính toán quá mức lạc quan, nhưng cô biết người ta hay nói gì mà—nữ thần may mắn chỉ có mái tóc xõa trước trán thôi.”

“Ý anh là anh phải nắm bắt cơ hội khi nó đến sao?”

“Đúng vậy.”

Lawrence ném vỏ quả óc chó vào bao rác và lau tay.

Nhìn anh, Elsa không thể kìm được lòng mà hỏi: “Nhưng anh nói rằng anh đang nhờ vả tôi. Anh nghĩ tôi có con mắt đặc biệt có thể nhìn thấy những con rắn khổng lồ sao?”

Lawrence đáp lại bằng một nụ cười tự giễu.

“Holo đang rất khó ở. Đó là lý do tại sao tôi cần sự giúp đỡ của cô để mọi việc được trôi chảy, cô Elsa.”

“Hmm?”

Trong giây lát, Elsa không hiểu Lawrence có ý gì. Tuy nhiên, cô để ý đến thái độ tinh nghịch của anh, và cuối cùng cũng hiểu những gì anh đang cố gắng truyền đạt.

“Nếu tôi giúp anh, có nghĩa là cô Holo cũng sẽ phải đi cùng sao?”

“Cô biết đấy, loài sói rất coi trọng lãnh thổ của mình.”

Cô không thể tin được người đàn ông này.

Anh ta đang rất muốn thể hiện trước Holo, nhưng lại lo sợ rằng nếu cứ tiếp tục, cô ấy sẽ thực sự nổi giận với anh. Tuy nhiên, lý do duy nhất khiến anh không thể từ bỏ cuộc săn đuổi này không phải vì muốn làm nên tên tuổi cho mình, mà vì anh muốn làm vợ yêu vui lòng.

Là một thành phần của giới giáo sĩ, với nhiệm vụ truyền giảng về tình yêu, cô thấy khó lòng mà khiển trách anh.

“Hai người chẳng thay đổi chút nào mà.”

Họ chưa bao giờ thẳng thắn cả; mà luôn nghĩ về nhau theo một cách vòng vo.

“Tôi sẽ coi đó như một lời khen.”

Cách Lawrence nói điều đó mang lại một nụ cười trên môi Elsa khi cô dùng búa gõ xuống quả óc chó với lực mạnh hơn.

~~~

Công việc chuẩn bị cho lễ hội hẳn đã kết thúc vào buổi sáng khi Holo đến nhà thờ khi đã đôi chút quá trưa. Đôi má cô hơi ửng hồng, có thể vì cô đã được mời rượu, nhưng nguyên nhân đôi mắt cô có vẻ lờ đờ nhiều khả năng là do có chuyện gì đó giữa cô và Lawrence tối qua.

Lawrence, người đã làm dịu đi sự táo bạo của một thương gia, dễ dàng giả vờ như không nhận ra có điều gì đó không ổn với vợ mình và hỏi Elsa liệu cô có sẵn lòng đi cùng họ để điều tra về truyền thuyết con rắn không.

Anh liếc nhìn Elsa một cách phóng đại và nháy mắt với cô; Elsa thở dài và đồng ý. Holo đã khăng khăng rằng mình cũng sẽ đi cùng, như thể không muốn con mồi của mình bị nẫng tay trên vậy. Holo biết cô đang bị kéo vào một trò chơi nào đó.

Trong mắt Elsa, sự tương tác của họ là một cuộc đụng độ của những kỳ vọng xảo quyệt, một sự bướng bỉnh trẻ con khi đặt niềm tin tuyệt đối vào nhau như một tấm khiên, và chẳng có gì cao cả trong đó cả.

Và vì vậy, Elsa đã bị kéo vào trò đùa giỡn của họ, nhưng cô đồng ý đi cùng vì cô cảm thấy mình có trách nhiệm làm chứng cho tình yêu của họ.

Tanya cũng đi theo, và họ cùng nhau nhảy lên chiếc xe kéo đến khu lãnh địa cũ của Voragine ở khu vực Salonia.

“Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu họ có hộp sọ của con rắn khổng lồ để trưng bày,” Lawrence nói, tay cầm dây cương.

Holo, người ngồi cạnh Lawrence, khoác chiếc khăn choàng qua vai và tỉnh táo lại trong cơn gió lạnh của mùa thu, nói: “Nếu một thứ như thế tồn tại, thì nó đã được đặt trong nhà thờ từ rất lâu rồi.”

“Tôi đã đọc lại biên niên sử,” Elsa chen vào từ vị trí của cô ở phần sau xe kéo với Tanya, nói, “và cách nó được viết có thể hiểu là con rắn đã bị đuổi đi, chứ không hẳn là bị giết.”

Sẽ hiệu quả hơn nhiều cho Giáo hội nếu họ đơn giản tuyên bố thẳng thắn rằng họ đã giết nó. Thậm chí nếu nó chỉ bị xua đuổi.

Nhưng người ta cũng có thể nhìn nhận bằng con mắt hoài nghi và cho rằng lý do thực sự là vì nếu một tuyên bố như vậy lan rộng khắp nơi, thì người ta sẽ bắt đầu ầm ĩ đòi bằng chứng.

“Có phải nó đã trốn thoát đến ngọn núi mà cô đang sống không?”

Holo quay lại nhìn Tanya. Cô gái sóc, người đang chơi đùa với những bím tóc mà các cô gái trong làng đã tết cho mình, ngồi thẳng dậy trong sự ngạc nhiên.

“K-không. Ta sẽ biết ngay nếu có một con rắn lớn sống gần đó.”

Ngọn núi ở Giáo phận Vallan vào thời điểm đó đã bị san phẳng hoàn toàn do các hoạt động khai thác mỏ, vì vậy mọi người chắc chắn có một tầm nhìn rất tốt về khu vực này.

“Một con thú như vậy có thể bị đánh bại bằng giáo mác và gươm của con người sao?” Holo trầm ngâm.

Nếu nó thực sự là một con rắn khổng lồ, thì vảy của nó chắc chắn phải cứng như thép. Rất khó để tưởng tượng có thứ gì có thể cắt hoặc đâm thủng chúng.

Elsa hình dung lại dòng chữ được viết trong biên niên sử, dịch nó sang ngôn ngữ bình dân trong đầu, và nói, “Anh hùng Voragine vung thanh gươm của mình và đâm nó vào cổ con rắn. Con rắn ngẩng chiếc đầu to lớn của nó lên và thốt ra tiếng kêu cuối cùng. Những bình nguyên của Salonia đã được hưởng thái bình kể từ đó...”

Khi cô kết thúc câu chuyện nhỏ của mình, Holo chế nhạo.

“Có lẽ nó tỉnh giấc vì bị cù cho nhột ở cổ, và nó chỉ ngáp một cái thôi.”

Elsa dễ dàng hình dung ra cảnh tượng tương tự.

“Nếu ngay từ đầu con rắn có ý đồ xấu, thì Salonia đã gặp nguy hiểm nghiêm trọng rồi. Không có ghi chép nào trong biên niên sử đề cập đến việc thành phố bị thiệt hại cả.”

“Chắc chắn ở đây có những con ngựa và cừu ngon hơn con người, và khó có khả năng nó bỏ sót một thị trấn ở một khu vực có tầm nhìn rõ ràng như vậy.”

“Có rất nhiều câu chuyện về các vị thần rắn ngoại đạo đặc biệt yêu thích rượu vang.”

Vị linh mục đã nuôi dưỡng Elsa có thói quen thu thập những câu chuyện về các vị thần ngoại giáo. Elsa cũng đã sưu tầm được những câu chuyện tương tự của riêng mình khi cô rời nhà đi du lịch và nhắc đến điều đó khi cô lật dở qua trí nhớ của mình.

“Vậy điều đó có nghĩa là nó không phải là một câu chuyện bịa đặt sao?”

Holo biết rằng vị giám mục đã tính toán cẩn thận toàn bộ tình huống này, vì vậy cô ngần ngại để chồng mình lún sâu quá vào chuyện này, điều đó dĩ nhiên có nghĩa là cô hy vọng rằng câu chuyện về con rắn chỉ là một câu chuyện hoang đường.

Cô ném một ánh nhìn sắc bén về phía Lawrence, nhưng anh chỉ nhún vai.

“Một chiến binh bình thường bỗng chốc trở thành quý tộc sở hữu đất đai chỉ sau một đêm, và thậm chí còn giành được quyền thu thuế tại một thị trấn vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Chuyện này chắc chắn không đơn giản như vậy. Tôi nghĩ việc hạ gục một con rắn tầm cỡ đó chắc chắn sẽ kiếm được một phần thưởng lớn như vậy, và ngược lại, tôi không thể nghĩ ra điều gì khác có thể giải thích những gì đã xảy ra ở đây.”

Elsa gật đầu đồng ý với chính mình. Lawrence không đơn giản là vui mừng trước một viễn cảnh quá tốt đẹp để có thể là sự thật; anh đang đánh giá cẩn thận những gì anh đã thấy và nghe, để biết đâu anh có thể tìm thấy kho báu nếu anh đào sâu vào nó.

Nhưng đó chính xác là lý do tại sao Elsa cảm thấy kỳ lạ.

Liệu Lawrence có thực sự tin rằng con rắn khổng lồ tồn tại không?

Khi xét đến chuyện người bạn đời của anh là một hóa thân sói trong truyền thuyết, việc anh dễ tin vào khả năng này hơn những người khác không phải là điều kỳ quặc. Nhưng ngược lại, điều đó có nghĩa là anh đang cố gắng đạt được những đặc quyền xuất phát từ việc con rắn khổng lồ này, là một trong những vị thần ngoại giáo cổ đại, đã bị giết. Elsa nghĩ anh hơi vô tâm với tư cách là người đã lấy một hóa thân sói làm vợ, vì cô không khác gì con rắn đó.

Người ta có thể nói rằng loài sói và loài rắn không giống nhau lắm, nhưng có điều gì đó không ổn với cô.

Cô vẫn có vô vàn thắc mắc—Lawrence có vẻ như không giống bản thân anh khi muốn duy trì mức thuế cao, hay khi anh lại liên minh với những thế lực chống lại công lý. Cô nhìn anh một cách hoài nghi, tự hỏi người thương nhân đội lốt cừu này đang âm mưu điều gì, thì chiếc xe chầm chậm dừng lại ở một nơi khá sầm uất trên đường.

“Cái gì đây?” Holo ngạc nhiên hỏi. Có lẽ cô chưa bao giờ thấy một thứ như vậy trước đây.

“Một cây cầu phao,” Lawrence giải thích. “Em chưa từng đi qua một cái nào sao?”

Không có cây cầu nào đàng hoàng bắc qua dòng sông ở phía đông Salonia.

Thay vào đó, có vài con thuyền bắc ngang qua mặt nước, những tấm ván gỗ được đặt lên trên để nối liền hai bờ.

“Chúng ta sẽ đi qua đây sao? Có những con thuyền bên dưới! Tại sao họ không xây một cây cầu đi?!”

“Tôi tin là vì mực nước thay đổi đáng kể theo từng mùa, chẳng hạn như khi tuyết tan,” Elsa giải thích. “Đây là một ý tưởng tốt hơn nhiều so với việc xây dựng một cây cầu.”

Việc xây dựng một cây cầu có thể chịu được bất kỳ mực nước nào đòi hỏi một lượng thời gian và tiền bạc đáng kể. Với mối đe dọa thường xuyên bị cuốn trôi do sự thay đổi của mùa màng, việc xây dựng một cây cầu phao là hợp lý hơn nhiều, vì nó có thể dễ dàng lắp đặt và tháo dỡ. Ngôi làng của Elsa cũng từng xảy ra không biết bao nhiêu cuộc tranh cãi về việc xây dựng lại những cây cầu nhỏ nhất.

Những suy nghĩ đó thoáng qua trong đầu Elsa khi cô hướng ánh nhìn lên thượng nguồn, nơi cô phát hiện ra một guồng nước gắn vào một chiếc thuyền cũng theo cách tương tự. Ngay cả khi mực nước thay đổi, guồng nước trên con tàu vẫn có thể duy trì cùng một khoảng cách so với mặt nước, điều này khiến nó đáng tin cậy hơn. Đối với một khu vực sống dựa vào lúa mì đã được đập và xay xát, một guồng nước đáng tin cậy là một vấn đề sống còn.

“Con người thường nảy ra những ý tưởng kỳ lạ nhất kaf...”

Dù đây là một cây cầu phao, nhưng nó có lưu lượng giao thông rất lớn, nên nó rộng hơn nhiều và được ưa chuộng hơn so với một cây cầu gỗ bắc qua một con suối nhỏ tưởng chừng như sắp sập. Các thương gia và dân làng hiện đang băng qua chính cây cầu phao này với những chiếc xe đẩy đầy ắp hàng hóa mà không có chút e ngại nào.

Nhưng nó vẫn nằm trên những con thuyền. Sự rung lắc nhẹ của mặt nước có lẽ là một cú sốc đối với con sói bên trong Holo.

Tanya, cô nàng sóc có thể dễ dàng leo trèo qua các thân cây, lại hào hứng hơn với việc băng qua sông, và sau khi Lawrence trả tiền vé qua sông và ngoái lại nhìn họ, cô ấy đã chủ động đi lên phía trước.

“Chúng ta cũng nên đi thôi,” Elsa nói với Holo trước khi nói thêm, “Tôi mong là bước chân của cô sẽ không bị chao đảo vì uống rượu.”

“Đồ ngốc!”

Sói thông thái thận trọng tiến lên một bước, chậm rãi bước dọc theo giữa cây cầu phao.

Dòng sông khá rộng, và có rất nhiều con tàu khác đang đi qua lại.

Nhưng với cây cầu phao chắn ngang đường, có nghĩa là phải xây một con kênh bên ngoài bãi cát nơi cây cầu kết thúc để tàu bè có thể qua lại tự do.

“Quả là một cảng sông đẹp.”

“Tôi nghe nói đây là nơi thu thuế đối với hàng hóa đi xuôi dòng.”

Lawrence, người vừa băng qua cầu chậm hơn một chút so với những người khác, cuối cùng cũng theo kịp và kể cho họ nghe những gì anh đã tìm hiểu.

“Và khi lượng tuyết tan chảy nhiều vào ngay trước mùa xuân, họ tháo dỡ hoàn toàn cây cầu và thả rất nhiều gỗ đi xuôi dòng. Nghe nói đó là một nơi an toàn, vì vậy người ta sẽ không bị cuốn trôi bởi gỗ hoặc dòng nước hung dữ.”

“Và vì thế mới không có cầu nhỉ.”

Rất khó cho con người mang vác những vật nặng như khúc gỗ. Lý do hầu hết các thành phố lớn nằm ven sông là vì việc vận chuyển vật liệu xây dựng bằng đường thủy sẽ dễ dàng hơn. Và khi những bó gỗ khổng lồ, đủ lớn cho nhiều người cùng cưỡi một lúc, liên tục lao xuống dòng sông khi tuyết tan, ngay cả những cây cầu chắc chắn nhất cũng khó có thể tồn tại được.

Họ thảo luận điều này khi băng qua các bãi cát, đi qua một túp lều nhỏ nơi một quan chức đang đóng chốt, sau đó tiến lại gần một cây cầu gỗ nhỏ bắc qua con kênh. Phần tường bao ngăn nước được ốp khung gỗ, và những chiếc thuyền nhỏ chở đầy ngũ cốc được neo đậu ở đó. Bờ bên kia chật kín các tòa nhà—nhà kho, quán rượu và những nơi trông giống như nhà trọ cho thủy thủ.

Ngoài ra còn có một vài gian hàng được dựng dọc theo con đường trải dài ra tận đồng bằng, và mùi khói thơm ngon bay về phía họ.

“Em có muốn thứ gì không?” Lawrence hỏi Holo, người quay đi hậm hực vì tự ái, rồi nhanh chóng nhảy trở lại ghế xà ích trên xe kéo.

Lawrence nở một nụ cười bất lực, và ánh mắt anh gặp ánh mắt của Elsa, người đáp lại bằng một nụ cười nhẹ. Cô giúp Tanya leo lên thành xe đẩy khi thấy cô ấy loay hoay, và cũng nhanh chóng làm theo.

~~~

“Không có cái cây nào ở đây cả. Thật buồn quá,” Tanya bỗng nhận xét khi họ rời khỏi bờ sông nhộn nhịp.

“Những cánh đồng trông giống như những con cừu bị xén lông vào cuối mùa thu hoạch vậy.”

Khu vực xung quanh Salonia đóng vai trò như vựa lúa của thành phố, với những cánh đồng trải dài ra mọi hướng ngút tầm mắt. Những bụi cây phân chia các cánh đồng và làm giảm mức độ nghiêm trọng của cơn gió thổi qua chúng nằm rải rác khắp nơi, nhưng điều đó chỉ khiến khung cảnh trở nên trống vắng hơn.

Những bao lúa mì chất đầy các con tàu trên sông và các khu chợ của thị trấn đều có nguồn gốc từ những cánh đồng rộng lớn này.

“Ta không ghét cảnh này đâu,” Holo nói khi ngồi trên ghế lái, vẻ mặt ngái ngủ. Bây giờ đang là giữa vụ thu hoạch trên những cánh đồng này; có những cô gái với mái tóc tết dài đang miệt mài gặt lúa mì bằng những chiếc lưỡi hái lớn. Holo dõi mắt nhìn về phía những ngôi làng, tận hưởng mùa thu hoạch của họ với ánh mắt hiền từ.

Khi họ tiếp tục tiến lên dọc theo con đường êm ả, ít thay đổi, Tanya bắt đầu ngủ gật, và Elsa cũng bắt đầu kìm nén những cái ngáp của mình.

Lawrence với tay tới Holo, người đã ngủ thiếp đi khi tựa vào anh, và nói, “Nhìn kìa, chúng ta có thể nhìn thấy nó rồi.”

Lời nói của anh thu hút ánh mắt Elsa hướng về phía trước cỗ xe. Và cô lờ mờ nhận ra một tòa nhà ngự trị trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ở phía xa.

“Đó là lâu đài cũ của dòng họ Voragine. Tôi nghe nói giờ họ dùng nó làm nơi chứa ngũ cốc và làm phòng họp.”

“Oáááp... Hff.”

Holo hừ mũi—có lẽ vì giấc ngủ trưa của cô bị gián đoạn, hoặc có thể là do cô không thích chủ đề này—nhưng Lawrence không hề mảy may.

“Trông nó có vẻ là một công trình bằng đá tuyệt đẹp đấy.”

Nó thậm chí còn có một tòa tháp, điều này cho thấy có khả năng nó đã từng phục vụ như một pháo đài trong thời kỳ hoàng kim của mình.

“Tôi rất không cho rằng toàn bộ ngọn đồi này sẽ được dùng làm nơi yên nghỉ cho con rắn đâu.”

Mọi việc sẽ tiến triển nhanh hơn nhiều nếu con rắn vẫn còn đang say giấc nồng ở đó, và Elsa thậm chí còn định hỏi nó xem thần hộ mệnh của Tereo đã đi đâu, nếu như điều đó là sự thật.

“...Cô có thể hạ gục nó chứ, Đức cô Holo?”

Tanya cuộn tròn tại chỗ ngồi với vẻ vô cùng lo âu, nhưng Holo lại nở một nụ cười đầy can đảm.

“Ngay cả khi không thể thắng, chúng ta chỉ cần chạy trốn trong khi nó mải mê xơi tái con cừu ngốc nghếch này thôi.”

Con cừu ngốc nghếch đang cầm cương ngựa nở một nụ cười khô khốc trên đôi môi mím chặt khi anh thúc chúng tiến về phía trước.

Lúa mì ở vùng này vẫn chưa đến ngày thu hoạch; những bông lúa lớn, chín mọng đang đong đưa trong gió.

Với ánh mắt dịu dàng, êm ái, Holo dõi mắt nhìn qua biển lúa vàng từ trên cao, và Elsa nhận thấy sự trìu mến trong ánh mắt Lawrence khi anh lén nhìn cô.

Cô chẳng cần thêm điều gì để hiểu.

Khi cô gặng hỏi anh trong nhà thờ lúc họ đang đập quả óc chó, vì sao anh lại quyết tâm theo đuổi cơ hội này đến vậy, Lawrence đã ấp úng trong lời giải thích của mình. Anh đã trông vô cùng ngượng ngùng khi làm điều đó.

Sau hàng chuỗi những khúc mắc, cặp đôi ngồi trên ghế xà ích đã tự tạo dựng cho mình một mái ấm ở tận phương bắc xa xôi và mở một nhà tắm. Đối với Elsa, người sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng, nơi này hoang vu đến mức cô thậm chí không nghĩ từ “sâu trong núi” là phù hợp để mô tả vị trí của nó.

Trong khi Holo vốn dĩ sống ở một vùng núi tương tự, nhưng có một ngày cô đã đi về phương nam trong một chuyến hành trình và nhận thấy bản thân đang ở một ngôi làng nơi cô cai quản việc thu hoạch lúa mì trong nhiều thế kỷ—một nơi có những cánh đồng lúa mì trải dài ngút tầm mắt, hoàn toàn khác biệt với những ngọn núi sừng sững của Nyohhira.

Tuy nhiên, Elsa tin chắc rằng Lawrence không hề có ý định bán nhà tắm ở Nyohhira, điều mà Holo từng lo sợ.

Đó là bởi người đàn ông này không khác gì một cận thần luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo công chúa của mình ở trong tâm trạng tốt nhất tại một bữa tiệc rượu. Và giờ đây, anh đang cố gắng dâng lên cho cô một món tráng miệng ngọt ngào, vô cùng ngọt ngào sau khi đã chiêu đãi cô đủ các món mặn.

“Chúng ta đến nơi rồi,” anh nói.

Holo đã nhận ra được bao nhiêu sự hồn nhiên của Lawrence?

Elsa không có cách nào biết được. Nhưng Holo nhẹ nhàng nhảy xuống từ ghế lái, hít một hơi căng tràn không khí mang hương vị ngọt ngào của lúa mì, và chiếc đuôi dày dặn của cô vẫy nhẹ dưới lớp áo.

~~~

Họ không thể nhìn thấy Salonia từ trên đỉnh ngọn đồi nhỏ.

Có lẽ sẽ có thể nhìn thấy nó từ trên đỉnh tháp, nhưng chẳng ai bận tâm đến điều đó trong cuộc sống hàng ngày.

Sống ở đây, tại một vị trí đắc địa có thể nhìn bao quát toàn bộ vùng lãnh thổ của mình, chắc chắn có thể mang lại cảm giác của một nhà cai trị.

“Ồ? Cô Elsa?”

Sau khi gõ cửa cổng của dinh thự Voragine cũ, một gương mặt quen thuộc xuất hiện—đó là một trong số các linh mục phụ tá từ nhà thờ Salonia. Mặc dù Elsa về mặt lý thuyết là một linh mục không hề được thụ phong, vị trí của cô vẫn là tạm thời, điều này có nghĩa là ngay cả các linh mục phụ tá trong một nhà thờ lớn như Salonia cũng có thứ hạng cao hơn cô về mặt chức vị. Anh ta để râu mép để tạo cho mình một vẻ ngoài oai vệ và trưởng thành hơn, vì anh ta hy vọng sẽ tiến thân trong hàng ngũ của Giáo hội. Vị linh mục phụ tá này, người chắc chắn sẽ trông rất trẻ nếu không có bộ râu nổi bật, tỏ ra ngạc nhiên trước chuyến viếng thăm của họ, nhưng vẫn chào đón họ một cách nồng hậu.

“À há, vậy ra cô đang đóng vai trò hòa giải trong vụ tranh chấp thuế quan.”

Lâu đài Voragine cũ trông giống như một chiếc hộp đá khổng lồ khi nhìn từ xa, nhưng sau khi bước qua cổng, họ bắt gặp một khu vườn rộng rãi và bản thân tòa nhà nằm lùi khá sâu ở phía sau. Có một vọng lâu bằng gỗ mở trong khuôn viên khu vườn, có thể được dùng làm nơi đập lúa hoặc lưu trữ lúa sau khi thu hoạch.

Nơi này toát lên một vẻ tĩnh mịch, và không có dấu hiệu nào cho thấy có người sử dụng dinh thự này làm nhà ở thường xuyên.

Khi họ băng qua khu vườn, giải thích lý do chuyến thăm, vị linh mục phụ tá cười ngạc nhiên. “Chà, chuyện này nghe có vẻ giống như một ý tưởng của Đức Giám mục lắm. Quản lý cánh đồng và những ngôi làng là một công việc vất vả. Ngài ấy hẳn đã nghĩ mình có thể đùn đẩy tất cả những trách nhiệm đó cho người khác.”

Mặc dù mặt tiền được làm bằng đá, nhưng nền nhà tầng một của tòa nhà chính lại được làm bằng đất nện và thoang thoảng mùi bụi bặm quen thuộc.

Gian sảnh chính, nơi đáng ra lãnh chúa sẽ ngự trị, giờ đây chất đầy những kiện cỏ khô và nông cụ hỗn độn; một con chó gầy gò, có thể là thuộc về dinh thự hoặc chỉ là một con chó hoang lạc vào, đi lang thang quanh đó, ngước nhìn Holo với đôi mắt cầu khẩn.

Vị linh mục phụ tá dẫn họ đến một chiếc bàn dài bên lò sưởi và rót rượu vang cho tất cả, thứ rượu đã bị hâm nóng quá đà vì để gần ngọn lửa và bay mất toàn bộ nồng độ cồn.

“Lúa mì không mang lại nhiều lợi nhuận sao?”

Vị giám mục có vẻ chủ yếu muốn giữ lại nguồn thu nhập từ việc thu thuế, và mọi lợi nhuận khác mà thái ấp tạo ra sẽ chảy thẳng vào túi của Lawrence. Điều đó có nghĩa là vị giám mục đã đặt tất cả những rắc rối đi kèm với việc quản lý vùng đất, cũng như nguy cơ nguồn thu nhập từ thuế sẽ sụt giảm trong những năm tới lên bàn cân, và cuối cùng quyết định rằng chỉ cần giữ lại nguồn thu nhập từ thuế là bước đi có lợi nhất đối với ông.

“Tôi e là vậy. Chuyện này không thành vấn đề trong những năm như thế này, khi vụ mùa bội thu, nhưng thật không may, nó lại đến theo từng đợt.”

“Dẫu vậy, người ta cũng không thể nào cắt giảm những chi tiêu sinh hoạt hàng ngày lãng phí được.”

Một trong những trọng trách mà Elsa phải gánh vác là quản lý sổ sách của nhà thờ Salonia. Cô đã phải vật lộn với những con số chỉ có thể mô tả là vô trách nhiệm, cẩu thả, không mạch lạc—vì vậy khi cô xen vào với giọng điệu gay gắt, một cái nhăn mặt xuất hiện trên khuôn mặt của linh mục phụ tá.

“Chính xác. Các chi phí của chúng tôi vẫn giữ nguyên như mọi năm, thế nhưng thu nhập của chúng tôi lại thường xuyên giảm sút nghiêm trọng, và điều đó gây ra rất nhiều sự xáo trộn. Giống như ba năm trước—đã xảy ra một đợt bùng phát nấm.”

Elsa nhận ra khi Holo nhấp ngụm rượu vang—thứ rượu rõ là không ngon miệng cho lắm—đôi tai cô giật giật dưới lớp khăn, và cô hướng ánh mắt về phía vị linh mục phụ tá.

Đó là bởi đây chính là căn bệnh từng gây ra biết bao rắc rối trong toàn bộ biến cố bao trùm lên chính quê hương Tereo của Elsa. Người ta truyền tai nhau rằng ăn lúa mì sau khi nó chuyển sang màu đen và dính nháp vì bệnh sẽ khiến người ta bị ảo giác, và phụ nữ mang thai sẽ sẩy thai.

Chỉ cần một mẩu ruộng nhỏ bắt đầu xuất hiện dấu hiệu bệnh, toàn bộ cánh đồng phải bị thiêu rụi, và ngay cả những tin đồn nhỏ nhất cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ vụ thu hoạch của vùng đất sẽ bán rất ế ẩm.

“Đó hẳn là tồi tệ lắm.”

“Đúng vậy, đó là một khoảng thời gian vô cùng khó khăn. Chỉ cần nhớ lại cảnh người dân ùa đến, cầu xin sự trợ giúp của Chúa cũng đủ làm trái tim tôi đau nhói.”

Nhiệm vụ của giới giáo sĩ là giúp xoa dịu nỗi đau khổ của người dân, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, vị giám mục đã đùn đẩy toàn bộ trách nhiệm đó cho các phụ tá của mình, và ông đang hy vọng tránh được những rắc rối tương tự có thể phát sinh trong tương lai bằng cách làm y như vậy.

“Còn nếu không, chúng tôi hàng ngày lại bị vùi lấp bởi những rắc rối khác, chẳng hạn như bảo dưỡng guồng nước cho cối xay, hay phân chia đất đai. Tôi nghĩ việc từ bỏ thu nhập từ lúa mì là một cái giá rẻ mạt nếu điều đó có nghĩa là có thể đẩy hết mớ hỗn độn đó cho người khác.” Vị linh mục phụ tá cười chua chát; rất có khả năng anh ta đã bị vị giám mục phái đến đây vì chính những lý do đó.

Ngay cả những ngôi làng nông nghiệp trông có vẻ thanh bình nhất cũng không hoàn toàn hoàn hảo ở bên trong.

“Nhưng trong trường hợp đó, vẫn còn một câu hỏi xen lẫn giữa tất cả những điều tốt đẹp mà đặc quyền thuế quan mang lại,” Lawrence lên tiếng, và mọi người quay sang nhìn anh. “Làm sao Gia tộc Voragine lại có được những quyền lợi thu thuế này?”

Vị linh mục phụ tá thở dài, những sợi râu ria rung lên dưới hơi thở của anh, và anh nhún vai. “Đức Giám mục đã triệu tập anh vì những thương gia buôn gỗ đang gây sức ép với ngài ấy để đòi câu trả lời cho vấn đề tương tự, phải không?”

Người ta kể rằng Anh hùng Voragine đã chiến đấu với một con rắn khổng lồ ngay tại khu vực này từ nhiều năm trước, sau khi nó mang lại sự hỗn loạn cho cả khu vực.

“Câu chuyện về con rắn khổng lồ bị tiêu diệt có thật không?” Lawrence hỏi, giả vờ ngây ngô.

Vị linh mục phụ tá cau mày, rồi cất giọng cứng nhắc: “Chắc chắn là anh có biết về Chúa rồi.”

Dù bản thân anh ta có thể không tin đó là sự thật, nhưng nếu anh ta nói ra điều đó, thì những khoản thuế mà nhà thờ thu dưới danh nghĩa Voragine sẽ trở thành một trò lừa đảo. Anh ta không ở vị trí có thể nói chính xác những gì mình tin tưởng, vì vậy cũng giống như những gì một giáo sĩ từ một thành phố lớn thường làm, anh ta khéo léo né tránh trả lời câu hỏi.

“Ở đây có còn thứ gì có thể dùng làm bằng chứng không?” Elsa hỏi.

Vị linh mục phụ tá ngay lập tức lắc đầu. Có vẻ như không có bất kỳ hộp sọ của con rắn khổng lồ nào nằm chình ình một cách thuận tiện xung quanh đây.

“Cha có phiền không nếu chúng tôi tham quan lâu đài và khu vực xung quanh?” Lawrence hỏi.

Vị linh mục phụ tá chớp mắt, nhưng không thể tìm ra lý do nào để từ chối.

“Không sao cả. Tất cả các tài liệu liên quan đến quyền sử dụng đất đai và các đặc quyền đã được chuyển đến nhà thờ Salonia để cất giữ, nhưng những ghi chép phức tạp hơn từ quá khứ vẫn còn ở dưới hầm. À, đúng rồi. Các trưởng làng, những nhân vật quan trọng khác, và những thương nhân lưu động sẽ tụ họp tại đây sau. Chúng tôi sẽ thảo luận về việc thu hoạch và vận chuyển lúa mì, vì vậy đây có thể là một cơ hội tốt để lắng nghe ý kiến của người dân địa phương.”

Nếu Lawrence sở hữu vùng đất này, thì vị linh mục phụ tá này sẽ không cần phải vượt đường sá xa xôi đến đây để lo chuyện lúa mì, và anh ta chắc chắn sẽ thiết lập một mối quan hệ lâu dài với nhà thờ Salonia. Vị linh mục phụ tá đã có một sự đánh giá khôn ngoan—nếu anh ta giúp đỡ Lawrence ngay bây giờ và khiến Lawrence mắc nợ mình, thì điều đó chắc chắn sẽ là một lợi thế khi anh ta thăng tiến trong hàng ngũ của Giáo hội trong tương lai.

Đó là suy nghĩ tự nhiên đầu tiên lướt qua tâm trí Elsa; khi cô nhận ra điều đó, cô khẽ lắc đầu. Kể từ khi rời khỏi Tereo, cô đã mang một góc nhìn sắc sảo hơn rất nhiều đối với giới giáo sĩ.

Thật không hiếm trường hợp một người từng rất trung thực và ngoan ngoãn khi sống trong một ngôi làng hẻo lánh lại trở nên hoài nghi và hay nghi ngờ hơn sau khi trở về từ thành phố.

Tệ hơn nữa, điều đó khiến cô cảm thấy sợ hãi; cô dùng hai tay ôm lấy khuôn mặt và buông một tiếng thở dài mệt mỏi.

Khi cuộc trò chuyện rơi vào khoảng lặng, vị linh mục phụ tá đứng dậy.

“Chà, tôi cần đi tìm người giúp chuẩn bị cho cuộc họp và bữa tối, vì vậy mong mọi người thứ lỗi cho tôi một lát. Mọi người cứ thoải mái tham quan tòa nhà nhé. Không có ai sống ở đây đâu và phần lớn nó được dùng làm kho chứa đồ, vì vậy sẽ không có gì bị khóa cả.”

“Cảm ơn cha.”

Vị linh mục phụ tá cúi chào và biến mất vào một căn phòng khác.

“Chà,” Lawrence bắt đầu, “Tôi đoán tôi sẽ đi chiến đấu với nấm mốc và bụi bặm dưới tầng hầm vậy.”

“Hừm,” Holo khịt mũi và quay đi. Cô không khó chịu với hoàn cảnh này; cô chỉ đơn giản là không thích bụi.

“Con bé và em sẽ xem xét xung quanh để đảm bảo con rắn không bị chôn vùi dưới chân chúng ta,” Holo nói trong khi chỉ vào Tanya đầy ẩn ý. Cô sóc nhìn ngơ ngác một lúc trước khi gật đầu vui vẻ.

“Vậy cô Elsa, cô có thể đi dạo quanh tòa nhà và chú ý tìm bất cứ thứ gì có thể tiết lộ về lịch sử của nó không?”

Đối với Elsa, dường như cô chắc chắn sẽ phải xuống hầm cùng với Lawrence, nhưng chính Lawrence lại là người gợi ý điều này với cô. Có lẽ anh không muốn để cô phải chịu đựng mùi nấm mốc và những lớp bụi bặm. Elsa vô cùng ấn tượng trước sự chu đáo của người thương gia trong những việc như vậy.

Đồng thời, điều đó lại dấy lên trong cô một danh sách dài vô tận những câu hỏi—chẳng hạn như tại sao một người đàn ông chu đáo như vậy lại trông ngốc nghếch mỗi khi đứng cạnh Holo.

“Tôi hy vọng sẽ tìm thấy thứ gì đó.”

Cô nhìn tới lui giữa cặp đôi dễ tính, và tất cả những gì cô có thể làm là buông thõng đôi vai.

~~~

Holo dắt Tanya ra ngoài, còn Lawrence xắn tay áo và mạo hiểm bước xuống cầu thang. Elsa bắt đầu dạo quanh pháo đài cũ một cách không mấy hào hứng.

Lịch sử thường được ghi chép trên giấy da, nhưng cũng có đôi lúc được phác họa lên tường của các tòa nhà. Nhà nguyện ở Giáo phận Vallan cũng đã được làm như vậy, và dẫu cho nó có khó hiểu đến mức nào, sự thật vẫn ẩn giấu ở đâu đó. Hoặc có lẽ có một ngôi đền ẩn giấu ở đâu đó tôn thờ con rắn vĩ đại—điều đó sẽ giúp tăng tiến độ lên khá nhiều.

Với những suy nghĩ đó trong đầu, Elsa bắt đầu rong ruổi khắp tòa nhà. Nhưng tất cả những gì cô làm chỉ là xác nhận sự hiện diện của những tàn tích của một cuộc sống nông thôn quen thuộc.

Chẳng có món đồ nội thất nào cả vì không có ai sống ở đây; những đống rơm rạ chất thành đống ở góc của những căn phòng không được sử dụng. Những chiếc giá cắm nến chạm khắc, vốn nằm rải rác trên tường, đã không được sử dụng từ rất lâu rồi; chúng bị bao phủ bởi một lớp bụi dày.

Cảnh quan cũng không thay đổi mấy khi cô tiến lên tầng hai và tầng ba. Điều duy nhất đáng chú ý là đôi lúc có một cái nồi lớn, to hơn rất nhiều so với những cái dùng cho gia đình; nó có lẽ đã được dùng cho các dịp lễ hội hay các cuộc tụ tập.

Khi cô cạy mở những tấm chớp gỗ trên cửa sổ, tất cả những gì cô thấy là bức tường đá bao quanh khu vườn. Tầm nhìn chẳng mấy tốt đẹp.

Có lẽ nơi này từng là bãi chiến trường chống lại quân ngoại đạo.

Elsa hình dung con rắn khổng lồ uốn lượn xung quanh, làm như trận chiến giữa con người chẳng liên quan gì đến nó, và cô mỉm cười.

“Anh hùng Voragine, ngài có thực sự đánh bại con rắn đó không?”

Việc giao thương đã bị đình trệ vì con rắn.

Tòa nhà được bao bọc vững chắc bằng đá ở mọi phía, nhưng nếu con rắn đó thực sự có kích thước khổng lồ như hình dạng thật của Holo, thì nó có thể dễ dàng làm sập cả công trình chỉ bằng cách cọ mình vào nó mỗi khi lột xác.

Theo ghi chép của Giáo hội, vị anh hùng đã vung gươm và đâm thẳng vào cổ con rắn.

Ngay cả khi Anh hùng Voragine đủ sức mạnh để đánh bại một vị thần ngoại đạo, Elsa, người biết quá rõ về Hiền giả Sói Holo hay cô sóc Tanya cần mẫn trồng cây trên núi, hiểu rằng ông ta có thể làm nhiều điều hơn trước khi phải ra tay đâm chém.

Rốt cuộc thì chúng đâu phải là những sinh vật không thể nói lý lẽ.

Cô đóng cửa sổ lại, và khi đang bước xuống cầu thang, một ý nghĩ bất chợt nảy lên trong đầu.

“Biết đâu... họ cũng giống như cặp đôi sói này.”

Khi suy nghĩ này lóe lên, cô thấy mình khá bất ngờ. Nếu hóa thân rắn và Anh hùng Voragine có một mối quan hệ thân thiết, thì việc tạo ra những phép lạ là điều vô cùng dễ dàng.

“Mình tin rằng anh Lawrence đã lường trước điều này.”

Là người từng tận mắt nhìn thấy hình dạng thật của sói thông thái Holo, Elsa tin chắc rằng không một con người nào có thể đối đầu với những sinh vật như vậy và chiến thắng chỉ bằng sức mạnh thuần túy. Lawrence, người đã đồng hành cùng cô ấy trong nhiều năm, hiểu điều này rõ hơn ai hết.

Việc tưởng tượng ra một tình huống có thể dẫn đến điều đó không hề khó khăn.

Con rắn khổng lồ và Anh hùng Voragine hoặc là người yêu, hoặc là bạn bè, và từ đó, thần thoại về vùng đất này đã ra đời.

“...Mình nghĩ có thể chúng mình đã từng nghe một câu chuyện tương tự ở thị trấn rồi.”

Gã đàn ông ấy chỉ trông có vẻ ngốc nghếch khi ở bên cạnh người vợ yêu dấu của mình—trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác, anh ta lại vô cùng sắc bén.

Và nếu câu chuyện về Anh hùng Voragine đánh bại con rắn thực sự là hư cấu, thì việc Lawrence tỏ ra nghiêm túc tìm hiểu về việc lấy lại đặc quyền ruộng đất là hoàn toàn hợp lý.

Thực tế, nếu anh ấy có thể chứng minh cho Holo thấy có những người khác giống như họ, thì đó sẽ là tin vui đối với cô sói ủ rũ này.

“Nhưng...” Elsa bước ra vườn, khoanh tay trước ngực, bước đi dưới bầu trời đang ngả sang màu hoàng hôn rực rỡ. “Việc anh Lawrence và mọi người xác nhận sự thật này, và việc thuyết phục các thương lái gỗ lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Mình tự hỏi anh ấy dự định tiếp cận người dân thị trấn như thế nào đây.”

Vấn đề là, việc họ nhận ra sự thật sẽ là chưa đủ. Họ sẽ phải kể cho những thương nhân buôn gỗ về truyền thuyết con rắn, và sau đó thuyết phục họ rằng những khoản thuế là hoàn toàn hợp lý. Và nếu việc thu thập một bằng chứng dễ nhận biết, như một chiếc hộp sọ, là chuyện đơn giản, thì vị giám mục hẳn đã tự mình xoa dịu các thương gia từ lâu rồi.

Điều đó có nghĩa là Lawrence sẽ phải tìm ra một bằng chứng quyết định nào khác, nhưng thật khó để tưởng tượng đó có thể là gì, và bản thân người đàn ông này dường như cũng không có vẻ gì là đã biết được đó là gì.

Lawrence đang tìm kiếm thứ gì đây?

Hay có lẽ anh chỉ đang tự nhủ rằng mình đã nắm được nó trong tay?

“Anh ấy không có cô Holo hỗ trợ, nên khó có khả năng anh ấy dùng đến những phương pháp đặc biệt nào.”

Elsa là kiểu người yêu thích những lý luận logic rõ ràng, những lập luận thẳng thắn, thế nên cô luôn cảm thấy khó chịu khi mọi việc không được giải thích một cách rành mạch và dễ hiểu.

Vừa bước đi, mắt cô vừa đăm đăm nhìn xuống đất trong khi đầu óc vẫn miên man suy nghĩ; và cuối cùng, cô nhận ra mình đang đứng bên ngoài pháo đài.

Hồi ở Tereo, mỗi khi cô ngước lên sau những lúc như thế, cô luôn thấy chồng cùng các con đứng đó, nhìn cô bằng nụ cười mệt mỏi.

Nhưng giữa vùng đồng bằng Salonia, cách xa ngôi làng của mình, cô chỉ thấy một cô gái đơn độc ngồi lặng lẽ giữa đám cỏ mùa thu.

Elsa tiến lại gần Holo, nhớ lại cảm giác nắm lấy bàn tay ấm áp của một đứa trẻ.

“Những cánh đồng lúa mì ở đây thế nào?”

Dù Elsa đứng ngay bên cạnh, Holo vẫn không thèm liếc mắt về phía cô, nhưng đôi tai sói của cô, giờ đây đã hiện rõ vì xung quanh không có ai, khẽ giật lên.

“Tôi tin rằng anh Lawrence muốn cô ngắm nhìn khung cảnh này đấy.”

Trải dài ngút ngàn trước mắt họ là một biển lúa vàng rực rỡ.

Elsa, người sinh ra ở vùng đồng bằng, yêu những nơi như thế này hơn hẳn vùng núi chật hẹp ở Nyohhira.

“Sao cô không thể hiện sự trân trọng của mình với anh ấy?” cô hỏi, và chỉ cố kìm lại việc nói thêm, với vẻ ngây thơ đi, vì cô biết nó có thể phản tác dụng.

“Đồ ngốc,” Holo đáp cộc lốc, nhưng lời nói của cô chẳng có chút uy lực nào.

Ngay cả cách cái đuôi cô đập xuống cỏ cũng thật yếu ớt.

Khi Elsa đứng cạnh cô trong tĩnh lặng, Holo cuối cùng cũng buông một tiếng thở dài thật dài.

“Tôi rất vui vì anh ấy đang cố để lại những kỷ niệm về mình cho tôi,” cô nói, cằm tì lên đầu gối. Trông cô như một đứa trẻ hờn dỗi khi nhìn ra những cánh đồng lúa mì. “Nhưng có quá nhiều mất rồi.”

Trong một khoảnh khắc, Elsa nghĩ về việc mình may mắn đến thế nào khi được gặp một vấn đề như vậy, nhưng rồi cô nhớ lại những gì vị linh mục phụ tá đã nói.

“Vì sẽ quá sức nếu giải quyết tất cả chúng, phải không?”

“Thật vậy. Anh ta quả là một kẻ ngốc.” Cô hạ đầu gối xuống và xếp chân lại dưới người. “Có lẽ anh ta nghĩ tôi có thể tạo ra một mùa màng lúa mì tốt tươi chỉ bằng một cái vẫy đuôi.”

“Cô không thể sao?” Elsa hỏi.

Cuối cùng Holo cũng quay lại lườm cô. “Dĩ nhiên là tôi có thể.”

“Vậy thì—” Elsa bắt đầu, nhưng rồi dừng lại. Đó không phải là vấn đề duy nhất ở đây.

Trong những thập kỷ tới, cô gái trẻ này sẽ lo liệu việc thu hoạch, rồi quay về pháo đài và nhận ra mình chỉ còn một mình. Dù vụ mùa có tốt thế nào đi chăng nữa, điều đó cũng chẳng thể mang người bạn đời của cô trở lại.

Trong khi Elsa đang mải suy nghĩ điều đó, những lời thoát ra khỏi miệng Holo lại thực tế hơn rất nhiều.

“Việc chăm sóc lúa mì đâu chỉ dừng lại ở lúc thu hoạch. Giống như con người mệt mỏi khi chạy, mặt đất cũng sẽ cạn kiệt sinh lực sau một vụ mùa. Đất đai màu mỡ sẽ bị rửa trôi sau những cơn mưa lớn, và các con kênh dẫn nước cũng thường xuyên hư hỏng. Đó là những việc tôi không thể kiểm soát. Đặc biệt là hạn hán. Và tôi hoàn toàn bất lực một khi lúa mì đã được thu hoạch. Tôi không thể quán xuyến mọi thứ—tôi không thể đảm bảo rằng lúa mì sẽ được bán với giá hợp lý. Tôi không thể hứa rằng mình sẽ không bị lợi dụng bởi những gã thương nhân tham lam. Xã hội loài người thật phức tạp, và nói chung là rất phiền phức.”

Sói thông thái hiểu rằng việc trồng lúa mì và quản lý một cánh đồng là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

“Chúng tôi không thể để nhà tắm của mình trống rỗng. Dù rất không muốn thừa nhận, nhưng tôi rất giống đứa con gái không ra gì của mình—những vấn đề phức tạp như điều hành một nhà tắm nằm ngoài khả năng của tôi rồi.”

Mọi người đang gọi cô con gái duy nhất của họ, Myuri, là một vị thánh, nhưng có vẻ như cô bé khác xa so với những gì lời đồn đại kể lại. Một cô gái là con của Lawrence và Holo thì sẽ như thế nào?

Khi Elsa cố gắng hình dung về cô bé, cô bất chợt mỉm cười. Chắc hẳn cô bé ấy phải là một thiếu nữ rực rỡ, vô lo vô nghĩ.

Và thế là, Elsa quyết định nói ra suy nghĩ của mình.

“Thật là một điều tuyệt vời khi phải băn khoăn về những chuyện như vậy...” Cô cảm nhận được ánh nhìn ngờ vực của Holo, nhưng cô chỉ mỉm cười nhìn ra những cánh đồng trước khi quay lại đối diện với cô. “...Tôi nói sai sao?”

Mái tóc của Holo, có màu sắc gần giống lúa mì đến mức Elsa chắc chắn sẽ lạc mất cô nếu cô lội qua những cánh đồng, khẽ đung đưa trong gió khi cô bĩu môi.

“Không,” cô thở hắt ra một tiếng dài. “Nó giống hệt rượu và cơn say xỉn vậy.”

“Mọi thứ đều nên ở mức độ vừa phải thôi.”

“Chính xác!” cô kêu lên, ném mình xuống đất. “Được yêu thương quá nhiều cũng thật đau khổ mà.”

Cô chẳng hề bẽn lẽn hay làm bộ làm tịch—Elsa tin rằng cô thực sự được yêu thương quá nhiều.

Và đó chính là điều khiến cô mỉm cười mỗi khi được gần gũi họ.

“Liệu mọi chuyện có suôn sẻ hơn nếu cô giao lại chúng cho cô Tanya không? Không...” Elsa gợi ý, nhưng nhanh chóng tự đính chính. “Cô ấy quá tốt bụng. Tôi không chắc mọi việc sẽ diễn ra êm đẹp đâu.”

“Đúng vậy. Con bé ấy hợp với việc chăm sóc cây cối trên núi nhất. Nhìn xem nó hồi hộp thế nào khi ở một nơi rộng lớn như thế này đi.”

Holo ngồi dậy và hếch cằm về một hướng; ở đó có Tanya, đang bước đi từng bước nhỏ và ngập ngừng, hệt như một đứa trẻ bị lạc.

Khi nhận ra Holo và Elsa đang nhìn mình, khuôn mặt cô ấy sáng bừng lên và cô ấy vẫy tay gọi họ bằng cả hai tay.

“Tôi đoán điều đó có nghĩa là con rắn không có ở đây,” Elsa nói trong khi vẫy tay đáp lại.

“Không. Tôi đoán nó cũng chẳng khác gì quá khứ xa xưa đâu.”

Cô nàng sóc Tanya chạy vội về phía họ và bắt đầu lắc đầu nguầy nguậy trước khi cả hai kịp hỏi han. Holo khen ngợi cô ấy khi đối phương đưa tay giúp con sói đứng dậy.

“Rốt cuộc thì tên ngốc đó đang mưu tính chuyện quái quỷ gì vậy?”

Họ đều hiểu rằng Lawrence khó có thể tìm ra bất kỳ manh mối siêu phàm nào nếu không có sự trợ giúp nhiệt tình của Holo. Và ngay cả khi cô chịu giang tay giúp đỡ, các thương gia cũng khó mà bị thuyết phục nếu không có bằng chứng vững chắc.

Bản thân Holo cũng hiểu rõ điều đó, nên cô cũng băn khoăn giống như Elsa—mặc dù khả năng con rắn tồn tại là rất mong manh, nhưng nếu nó thực sự từng sống, thì họ sẽ lấy đâu ra bằng chứng để chứng minh điều đó?

“Có lẽ chúng ta sẽ tìm ra manh mối nếu dò hỏi những người dân địa phương.”

“Mm...” Holo kéo chiếc khăn choàng qua đầu, giấu kín chiếc đuôi sau lớp áo quần. “Gạt qua một bên sự hăng hái của tên ngốc kia, thật đáng hổ thẹn cho Hiền giả Sói khi không thể nhìn thấu được những dự định của hắn.”

Đối với Elsa, điều này nghe không giống một cuộc cạnh tranh mà giống một lời cằn nhằn hơn, rằng cô không thể nhìn thấy những cảnh vật giống anh, dù cô đang ở ngay bên cạnh anh.

Cô sói này muốn được ở bên người bạn đời của mình, cùng ngắm nhìn những cảnh vật, hít thở cùng một bầu không khí và mãi mãi ở bên nhau.

Thật khó để hình dung rằng Lawrence tinh ý lại không nhận ra một điều như vậy, nhưng quả thật, họ đã dần trật nhịp với nhau.

Holo quay sang Tanya, tỉ mẩn nhặt từng ngọn cỏ khô vướng trên mái tóc bù xù của cô ấy, hệt như một người chị gái khó tính. Trong khi đó, Tanya lại tỏ ra vô cùng mãn nguyện khi được chị gái chăm chút.

Nhìn cảnh tượng ấy, Elsa bỗng thấy mình như đang trở lại những ngày còn trẻ, cái thời mới quen biết Holo và Lawrence.

Tuy cảm thấy hơi kỳ lạ khi nghĩ lại chuyện này sau ngần ấy năm, cô vẫn tự hỏi làm thế nào Holo lại có một sức hút kỳ lạ đến mức tạo ra được một bầu không khí ngây thơ như vậy.

Elsa buông một tiếng thở dài nhè nhẹ cùng một nụ cười tự giễu, rồi cô cũng với tay chạm vào tóc Tanya. Cô tháo những bím tóc lộn xộn mà các cô gái từ nhà thờ đã tết trên tóc Tanya và thắt lại một cách gọn gàng hơn nhiều. Holo bị ấn tượng bởi kỹ năng của cô, và Tanya đứng đó, tràn đầy vui sướng.

Trong khi Elsa đang thả mình vào cảm giác được trở lại làm một cô gái trẻ, Holo đột nhiên ngẩng đầu lên và nhìn chằm chằm vào khoảng không.

“Hmm?”

Ánh mắt Holo quét qua phong cảnh, cuối cùng dừng lại ở lối vào pháo đài.

Một cái cau mày ngay lập tức hiện lên trên khuôn mặt cô.

“Sao lại làm vẻ mặt đó…?”

Sự bực dọc trong giọng điệu của cô có lẽ là do sự xuất hiện đột ngột của một gã đàn ông thô lỗ giữa ba cô gái. Lawrence đang vẫy tay với họ, tay cầm một mảnh giấy, và nở một nụ cười vô cùng hớn hở trên khuôn mặt.

Từ góc nhìn của người đã quyết định chọn anh làm bạn đời, tất cả những gì cô thấy là sự ngây thơ như một cậu bé, điều này sẽ buộc cô phải đóng vai trò là người lớn trong tình huống này, và thở dài đầy lo lắng.

~~~

Holo đứng ở phía trước, cùng Elsa và Tanya phía sau cô, và tất cả họ đều tiến về phía Lawrence. Vị cựu thương nhân, người thường bị gọi là một con cừu ngốc nghếch, giơ cao một tờ giấy với vẻ đầy tự hào.

“Anh đã tìm thấy bằng chứng của chúng ta rồi.”

“…”

Holo không nói lời nào mà thay vào đó giật lấy tờ giấy từ tay anh.

Cả Tanya và Elsa đều nhìn qua vai cô để thấy đó là một tấm bản đồ khá cũ.

“Cái gì đây? Ý anh là anh đã tìm thấy một bản đồ cho thấy con rắn đã đi qua đâu sao?”

Nó chỉ là một tấm bản đồ cũ, và ngay cả khi có bất kỳ dòng chữ nào gợi ý rằng con rắn đã đi qua một khu vực cụ thể nào đó, những người duy nhất tin vào điều đó sẽ là những đứa trẻ nhỏ yêu thích sự kỳ ảo.

Bất chấp những ánh nhìn nghi ngờ của ba người phụ nữ, anh vẫn gật đầu mạnh dạn mà không hề nao núng.

“Anh sẽ cho em thấy bằng chứng.”

“Hmm? A-anh à, anh—”

Holo trở nên bối rối vì cô vấp ngã khi Lawrence nắm lấy tay cô và kéo cô đi.

Cô vẫn còn hoang mang khi bị anh dẫn đi, ngoái nhìn lại Elsa và Tanya. Holo trông giống hệt một cô gái trẻ đang bối rối vì lỡ nói xấu người mình thích, chỉ để người đó bất ngờ xuất hiện và kéo cô đi.

“...Chúng ta nên làm gì đây?” Tanya hỏi, đan các ngón tay vào nhau suy nghĩ. Vẻ mặt cô ấy cho thấy cô không quá lo lắng về Holo mà chỉ đang vô cùng tò mò muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Elsa không có những người bạn nữ thân thiết trạc tuổi mình khi còn ở Tereo, vì vậy tất cả những gì cô có là trí tưởng tượng—và cô tin rằng những cô gái bình thường, trong hoàn cảnh này, sẽ đi theo họ.

“Đi nào.”

Tanya gật đầu vui sướng, và Elsa tiến lên dẫn đường.

Tất nhiên, cô thực sự tò mò muốn biết Lawrence đã phát hiện ra điều gì. Tuy nhiên, thành thật mà nói, cô tò mò hơn về việc anh sẽ cho Holo thấy một khung cảnh lãng mạn như thế nào, xét đến vẻ hưng phấn trên khuôn mặt anh khi anh kéo theo nàng sói thông thái đang bối rối.

Điều đó cũng khiến cô rất giống một cô gái trẻ muốn chứng kiến câu chuyện tình yêu của bạn mình diễn ra.

“Ô-ôi, trời ơi. Chúng ta nên làm gì đây?” Tanya, người vừa chạy như thể đang đuổi theo những hạt sồi lăn xuống sườn núi, đột nhiên khựng lại, lấy tay che miệng khi nói. “Đây có phải là ổ mới của họ không?”

Trong giây lát, Elsa không hiểu cô ấy có ý gì, nhưng cuối cùng cô nhớ ra rằng Tanya là một con sóc.

Lawrence đã kéo Holo vào trong tòa tháp đá.

Có lẽ tòa tháp trông giống như một cái tổ đối với thế thân của một con sóc cây.

Sau một khoảnh khắc suy nghĩ, Elsa nói với giọng trêu chọc: “Chúng ta phải đi xem liệu nơi này có phải là một nơi ở thích hợp cho cô Holo hay không đã.”

Tanya chớp chớp đôi mắt to tròn, rồi cuối cùng nở một nụ cười vô tư. “Tất nhiên rồi!”

Elsa tự nhủ rằng Tanya là một người khá tinh nghịch khi cô mở cánh cửa mà Lawrence và Holo vừa bước qua không lâu trước đó và bước vào trong tháp.

Một cầu thang xoắn ốc dẫn lên trên, và khá rõ ràng rằng nó được xây dựng với những lý do lớn hơn là để cho giới quý tộc khoe khoang. Dù khi Elsa nghĩ về việc nó sẽ được sử dụng như thế nào trong thời chiến, có điều gì đó ở nó khiến cô cảm thấy kỳ lạ. Một tòa tháp đơn độc như thế này sẽ hữu ích như thế nào trong chiến tranh nếu nó nằm chơ vơ giữa vùng đồng bằng rộng lớn như vậy?

Cô chợt nghĩ về cây cầu phao gần Salonia. Mọi thứ đều có lý do của nó, và khung cảnh nhìn từ trên đỉnh đồi đủ để khiến bất cứ ai cũng cảm thấy mình là một vị quân vương đang ngắm nhìn vùng đất của mình.

Hoặc có lẽ có thứ gì đó mà họ cần phải theo dõi, đòi hỏi một điểm quan sát cao hơn nữa?

Hay đó chính là con rắn?

Nhiều suy nghĩ thoáng qua trong đầu Elsa khi cô leo lên cầu thang theo sau Tanya.

Với tất cả những khả năng đó trong tâm trí, cô thấy khung cảnh bên ngoài những ô cửa sổ nhỏ trên tường ngày càng xa dần. Cô liếc nhìn xung quanh, hy vọng tìm thấy một bức tranh có thể tiết lộ lịch sử ở đâu đó; khi họ đi qua cửa sổ ở tầng ba nhìn xuống khu vườn, cuối cùng họ đã bắt đầu nhìn thấy những mái nhà.

Đó là lúc cô nhìn thấy vị linh mục phụ tá đang đi dạo qua sân trong cùng những người khác. Họ trông nhỏ bé đến mức như thuộc về một thế giới xa xôi nào đó.

Cầu thang tháp tiếp tục dẫn lên trên.

Bước chân của Tanya dần trở nên nặng nề khi cô ấy bắt đầu thở hổn hển, nên Elsa khích lệ cô sóc tiếp tục bước lên.

Và ngay khi cô bắt đầu cảm thấy chóng mặt, họ bước ra một nơi cao hơn cả bức tường đá.

Một vòng nữa trên cầu thang xoắn ốc sẽ đưa họ lên đến đỉnh tháp.

Elsa dừng lại không phải vì Tanya đã kiệt sức, hay vì họ sẽ chạm trán Lawrence và Holo trên đỉnh tháp.

Đó là vì mắt cô dán chặt vào khung cảnh mở ra trước mắt qua khung cửa sổ trên tường.

“Không... Chẳng lẽ là...?”

Cô không thể kìm nén được việc thốt ra những suy nghĩ của mình; cô nuốt nước bọt giữa những nhịp thở gấp gáp và nhìn chằm chằm vào những gì mình đang thấy.

Là một người hầu của Chúa, cô vẫn thường kể cho mọi người nghe những phép lạ thần thánh được ghi chép trong Kinh Thánh để nuôi dưỡng đức tin của họ. Mặt khác, cô cũng nối nghiệp cha mình, thu thập những câu chuyện về các vị thần ngoại giáo. Và rồi, cặp đôi kỳ diệu gồm người thương nhân lưu động và một cô gái đã đến thị trấn của cô.

Trong mắt cô, họ sống trong một thế giới kỳ diệu, và họ đã chỉ cho cô thấy một mặt của thế giới mà trước đây cô chưa từng nghĩ tới. Và giờ đây, một lần nữa, họ lại đang làm điều tương tự.

Họ đang đưa ra bằng chứng không thể chối cãi về một truyền thuyết vượt thời gian.

“Cái gì? Cái gì vậy?! Đó là dấu vết của con rắn sao?!”

Tanya tiến lại gần Elsa để ngó qua lỗ hổng trên tường và cất tiếng kinh ngạc.

Không thể nhầm lẫn được cảnh tượng đó—bất cứ ai nhìn vào cũng sẽ nghĩ đến điều tương tự.

Trước mặt họ, giữa cánh đồng lúa mì vàng rực đang uốn lượn theo gió, được chiếu sáng bởi ánh nắng chiều thu, là một con đường mòn rõ nét chỉ có thể được để lại bởi một con rắn khổng lồ.

“N-nhưng, điều này...”

Elsa cảm thấy vô cùng bối rối trước những gì mình đang thấy.

Điều dễ dàng nhất để xác nhận là hỏi Tanya.

“Cô Tanya. Chẳng phải cô đã nói là không có con rắn nào sao?”

Tanya thở hổn hển trước câu hỏi. “Ô-ồ, đúng vậy, cô nói đúng. Nhưng... hả? Vậy thì tại sao...?”

Elsa nghi ngờ rằng Holo với chiếc mũi sói của mình lại có thể bỏ qua sự hiện diện của một con rắn. Hoặc có lẽ con rắn khổng lồ để lại dấu vết trên cánh đồng là một sinh vật vĩ đại hơn nhiều so với những người như Holo hay Tanya.

Một thứ gì đó không thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nhưng lại để lại những dấu vết như thế này chỉ trên cánh đồng lúa mì.

Không thể nào, Elsa nghĩ. Và ngay lúc đó, một cảm xúc tương tự phát ra từ phía trên.

“L-làm sao em có thể bỏ lỡ điều này?! Thật không thể tin được!”

Nghe có vẻ như Holo cũng không hiểu những gì cô ấy đang nhìn thấy. Tiếng kêu bối rối của cô ấy gần như trở thành một tiếng hét, khiến Elsa và Tanya phải liếc nhìn nhau; Elsa đặt ngón tay lên môi, rồi ra hiệu cho cả hai cùng lặng lẽ bước lên cầu thang.

“Con rắn này... đã để lại một dấu vết trên lúa mì...”

Elsa và Tanya dừng lại ngay trước khi lên đến đỉnh.

“Kỳ lạ thật, phải không? Nó rất khó nhìn thấy khi em ở dưới đất, nhưng lại hiện rõ mồn một khi em ở trên cao.”

Họ đã nhận ra được sự tự hào trong giọng nói của Lawrence. Elsa có thể dễ dàng hình dung ra cảnh Holo ưỡn vai và xù đuôi.

“Hrrgh… Vậy thì em không hiểu nổi. Em không hề cảm nhận được sự hiện diện của con rắn nào cả. Và quan trọng nhất—!” Giọng nói của Holo đầy đau khổ, như thể cô đang cố gắng rũ bỏ một cơn ác mộng. “Nếu có một con rắn khổng lồ trườn qua, lúa mì sẽ bị uốn cong, bị đè bẹp hoàn toàn. Anh định nói với em rằng con rắn này mềm mại như sương mù, một thứ mà em có thể vuốt ve sao?!”

Mặc dù Holo và đồng loại của cô là những sinh vật siêu nhiên đáng kinh ngạc đối với người bình thường, nhưng cô vẫn cảm thấy bối rối và kích động. Tuy nhiên, câu trả lời của cô lại đến từ một cựu thương nhân với giọng điệu điềm tĩnh, gần như đang kìm nén một tràng cười.

“Ngược lại cơ.”

“Cái gì?!”

“Nó không trườn trên lúa mì đâu. Nó đang đi bên dưới. Và theo một cách nào đó, bây giờ nó vẫn vậy.”Spice%20and%20Wolf%20Volume%2023%20-%20PDF%20Room-140_page-0001.jpg?updatedAt=1751030168227“—!”

Tất cả những gì Elsa nghe thấy là tiếng thở hổn hển của Holo. Cô ấy không thốt nên lời.

Holo có lẽ đang đứng chết trân, đôi mắt mở to, nanh vuốt nhe ra, sẵn sàng vồ lấy bất cứ lúc nào.

Nhưng Elsa cũng ở trong tình trạng tương tự. Cô hoàn toàn quên mất cảm giác như một cô gái trẻ đang cố gắng nghe lỏm một lời tỏ tình, và thay vào đó cô dỏng tai lên để nghe lời giải thích của Lawrence.

“Đó không phải là con rắn khổng lồ đâu.”

“Cái gì?!”

“W-whoa, này! Đừng có đẩy anh! Anh ngã mất!”

Elsa có thể nghe thấy giọng nói hoảng hốt của Lawrence khi Holo lao về phía anh khi cuối cùng cũng hết kiên nhẫn.

“Đó không phải là con rắn...? Anh... Anh à, anh có bị mù—ồ. Hmm?”

Holo cuối cùng cũng nhận ra khi cô nắm chặt Lawrence trong tay.

Elsa có thể hình dung điều đó một cách dễ dàng, như thể cô đang ở đó cùng với họ.

Lawrence đang cầm tấm bản đồ cũ trong tay.

Cô rất ngạc nhiên.

“Chính xác. Đó là những gì còn lại của một dòng sông.” Giọng anh dịu dàng, như thể đang cẩn thận dẫn dắt cô đi qua dòng suy nghĩ của mình. “Có một bản đồ địa hình cũ của khu vực này cùng với một số bản đồ cũ khác. Và điều này hoàn toàn trùng khớp với những gì chúng ta thấy ở đây.”

Tanya bồn chồn, muốn nhìn ra ngoài cửa sổ một lần nữa, nên Elsa lùi lại nhường chỗ cho cô sóc; cô nhìn Tanya lách qua mình để xuống cầu thang, và đồng thời tập trung vào những giọng nói phía trên cô.

“Dòng sông cổ này chảy qua bình nguyên Salonia từ dãy núi phía đông đến phía tây nam. Và em xem, nếu em đi theo dấu vết con rắn suốt chặng đường, em sẽ đến những ngọn núi ở phía đông, phải không? Sau đó, em sẽ bắt đầu đến rất gần dòng sông mà chúng ta đã vượt qua nếu em đi xa hơn về phía thượng nguồn.”

Elsa có thể hình dung cảnh Holo quay lại nhìn theo hướng Lawrence đang chỉ, rồi lại quay lại nhìn anh với vẻ thất vọng.

Có tiếng sột soạt lớn của quần áo và những bước chân cáu kỉnh.

“Theo bản đồ này, trước đây có hai con sông chảy qua bình nguyên. Những dấu vết trên cánh đồng là của những con sông đã cạn kiệt.”

“N-nhưng...”

Holo im bặt, và Elsa đồng cảm với sự bối rối của cô.

Xét cho cùng, Holo vừa mới đứng trước cánh đồng lúa mì đó không lâu trước đây.

Lẽ nào cô ấy không nhận thấy việc dòng chảy của con sông cũ đã để lại một dấu ấn vật lý trên mặt đất, một vết lõm trên chính mặt đất sao? Và quan trọng nhất, bất cứ ai có chút kiến thức về việc chăm sóc cánh đồng lúa mì sẽ thắc mắc liệu nó có còn nguyên vẹn hay không, ngay cả sau nhiều tháng và nhiều năm cày xới.

Vậy mà thật kỳ lạ là một dòng sông cũ lại để lại một dấu ấn rõ ràng như vậy trên mặt đất, hệt như một tấm thảm dành cho lúa mì. Có vẻ như chỉ bản thân lúa mì mới biết đất đai đã thay đổi như thế nào... Khi suy nghĩ đó nảy ra trong đầu Elsa, cô suýt nữa thốt lên kinh ngạc, nhưng đã kịp kìm lại.

Sau đó, nàng sói thông thái Holo cũng đưa ra câu trả lời tương tự.

“Hệ thống thoát nước!”

“Rất tinh ý. Anh đã hỏi dân làng, và họ nói rằng đất chỉ sâu nhất ở nơi từng là dòng sông, điều đó có nghĩa là cây cỏ ở đó mọc theo một cách hơi khác biệt.”

Khu vực nơi con sông từng chảy qua sẽ chứa đầy đá và sỏi. Việc dọn sạch tất cả những thứ đó bằng tay là điều không thực tế, vì vậy họ đã san lấp các hố trũng bằng đất để tạo ra các cánh đồng. Điều này sẽ không ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực, nhưng nó sẽ không bao giờ có được loại đất giống như các khu vực xung quanh.

“Mặc dù sự khác biệt này không đủ để thay đổi năng suất thu hoạch lúa mì dù tốt hay xấu, nhưng chiều cao và thân cây lúa lại có sự khác biệt rõ rệt. Vì vậy, thời điểm duy nhất em có thể thấy được điều này là khi lúa mì chín và từ những vị trí cao. Chúng ta may mắn đấy,” Lawrence nói với giọng điệu thoải mái, rất có thể anh đang phóng tầm mắt ra những cánh đồng.

“Trong trường hợp đó... con rắn thì sao?”

Elsa hiểu được sự bối rối của Holo. Bởi vì nếu con rắn khổng lồ trong thần thoại thực sự là tàn tích của dòng sông cũ này, thì cô sẽ phải điều chỉnh lại dòng suy nghĩ của mình để hiểu được toàn bộ ý nghĩa của việc này.

Vậy câu chuyện về Anh hùng Voragine thì sao? Rất khó có khả năng thành tựu duy nhất của ông ta là nhận ra sự khác biệt nhỏ về màu sắc trên cánh đồng lúa mì, vội vàng xây dựng một tòa tháp, rồi tuyên bố rằng một con rắn từng đi lang thang ở đó. Liệu một việc như thế có đủ để mang lại cho ông ta các đặc quyền thu thuế, hay bất kỳ tước hiệu nào không?

Lawrence dĩ nhiên có thể giải thích mọi chuyện, đó là lý do tại sao anh đưa Holo đến đây với nụ cười rạng rỡ.

“Con rắn cản trở giao thương đã thực sự tồn tại.”

“...”

Lawrence vừa nói với cô rằng dấu vết trên cánh đồng không phải là của con rắn. Elsa có thể cảm nhận rõ ràng sự hoang mang của Holo qua sự im lặng của cô. Lawrence rất thích dắt mũi cô, đặc biệt là khi cô thường xuyên lấn lướt anh, nhưng anh thừa biết hậu quả sẽ ra sao nếu anh quá đà.

Anh lên tiếng để an ủi cô, nhưng trong giọng nói vẫn có một tiếng cười khúc khích.

“Chuyện này khá phức tạp đấy.”

“...Hừm.”

Elsa gần như có thể nhìn thấy Lawrence nhăn mặt khi Holo bĩu môi.

“Đầu tiên, Anh hùng Voragine không thực sự giết một con rắn. Nhưng ông ta đã hạ gục một thứ rất giống nó.”

Đó hoàn toàn là một câu đố, và Hiền giả Sói Holo đã đủ tức giận để hoàn toàn không có ý định đợi câu trả lời. Elsa có thể nghe thấy một nụ cười hiền lành trong giọng nói của Lawrence, như thể anh nghĩ điều đó rất buồn cười, khi anh tiếp tục nói.

“Ông ta giết con rắn không phải bằng gươm, mà bằng một cái xẻng. Ông ta đã làm cạn dòng sông.”

Elsa bước xuống một bậc cầu thang, lắng nghe Lawrence trong khi cùng Tanya nhìn ra cánh đồng qua cửa sổ.

“Nhưng sẽ thật kỳ lạ nếu ai cũng có thể trở thành quý tộc chỉ bằng cách làm cạn kiệt một dòng sông, đúng không?”

Giọng điệu trả lời của Holo có vẻ miễn cưỡng; có lẽ cô cảm thấy tội lỗi vì đã phớt lờ anh thêm nữa. “Những người trồng lúa mì sẽ chỉ thêm căm ghét ông ta thôi.”

“Chính xác. Và em không thể chỉ dùng con rắn như một ẩn dụ cho dòng sông. Em còn nhớ cách chúng ta băng qua cầu phao chứ?”

“Đúng, em nhớ. Vậy thì sao?”

“Em đã hỏi tại sao họ không xây một cây cầu lớn bắc qua sông, nhớ không?”

Elsa chỉ còn vài giây nữa là tự giải được câu đố, nhưng Sói Thông Thái đã để trí tuệ của mình lên tiếng.

“Bởi vì tất cả gỗ trôi xuống từ ngọn nú—Ồ!”

“Chính xác. Họ thả trôi tất cả các khúc gỗ xuống sông. Thử tưởng tượng xem nó sẽ trông như thế nào nếu em đứng cạnh sông và nhìn chúng trôi qua đi.”

Nó sẽ trông giống như một con rắn khổng lồ.

“N-nhưng, à...”

“Đó mới chỉ là một nửa câu chuyện thôi.”

Ngay cả Elsa cũng có thể hình dung ra những cử chỉ cường điệu của Lawrence khi anh ngày càng đắm chìm vào câu chuyện.

“Dòng sông từng có hai nhánh, em nhớ không? Một nhánh chưa bao giờ chảy đến Salonia; nó chảy theo hướng này. Không có thị trấn nào trên những đồng bằng này, và nó nằm xa tầm mắt.”

Mặc dù Holo là một tinh linh từ thời xa xưa, nhưng cô đã cùng đi với vị cựu thương nhân này một thời gian, và cô đã học được cách nhìn thế giới theo cách của anh.

“Buôn lậu.”

Tuy Lawrence có vẻ tốt bụng, anh vẫn luôn là một thương nhân thực thụ. Cuộc hành trình của họ không hoàn toàn chỉ toàn những điều tốt đẹp, và Holo đã được tiếp xúc với phần lớn bóng tối của thương trường.

“Có rất nhiều người đã quyết định sử dụng dòng sông này để vận chuyển gỗ của họ nhằm trốn thuế. Bây giờ, họ không thể làm điều này công khai, vì vậy họ thả gỗ trôi sông vào ban đêm. Nhưng việc thả gỗ trôi tự do trên sông đồng nghĩa với việc gỗ có thể bị mắc kẹt ở những khúc ngoặt hẹp. Và vì vậy, họ buộc những mảnh gỗ mỏng lại với nhau để tạo thành thứ trông giống như bè, và sau đó sẽ có người đứng ở đầu bè để dẫn đường. Và em cần gì nếu làm việc này vào ban đêm?”

Ánh trăng chỉ có thể cung cấp một lượng ánh sáng nhất định.

Việc sử dụng đuốc ở đầu đoàn rước tối tăm này chỉ có thể làm nó trông giống như một thứ.

“Nó sẽ trông giống như... mắt rắn trong đêm tối.”

“Và chính Anh hùng Voragine là người đã tiêu diệt con rắn.”

Tất cả chỉ bằng cách làm cạn dòng sông.

“Anh đã mường tượng ra câu chuyện khi nhìn thấy tấm bản đồ trong làng. Anh cũng thắc mắc tại sao các thương lái gỗ và Giáo hội không thể giải quyết cuộc tranh chấp kéo dài này. Anh nghĩ mọi người đều biết chuyện này cả rồi.”

Việc một người qua đường tinh ý nhận ra một lỗ hổng trong một niềm tin lâu đời, đặc biệt là niềm tin đã được người dân địa phương truyền lại qua nhiều thế hệ mà không ai nghi ngờ, là điều thường thấy trong những câu chuyện phiêu lưu, nhưng hiếm khi xảy ra trong thực tế. Sự thật quá rõ ràng khiến họ không thể diễn đạt thành lời một cách đơn giản.

Vào thời điểm đó, Giáo hội đang bận rộn chống lại những người ngoại giáo, vì vậy việc ngụy trang nó thành câu chuyện về một con rắn khổng lồ bị giết sẽ thuận tiện hơn rất nhiều; những thương lái buôn gỗ thì phải gánh chịu những hành động vô đạo đức mà tổ tiên họ đã làm.

Tuy nhiên, không bên nào có thể đưa ra quyết định dứt khoát, và vẫn giữ thái độ im lặng bế tắc khi một du khách có nhiều ảnh hưởng nhưng lại không biết gì về các vấn đề địa phương đến thị trấn.

Và vì vậy, họ đã gọi Lawrence đến, hy vọng anh sẽ mang lại lợi thế cho họ mà không bao giờ nhận ra sự thật.

“Nhưng anh sẽ không để họ thao túng mình như vậy.”

Elsa có thể hình dung ra vẻ tự mãn trên khuôn mặt Lawrence, và cô cũng dễ dàng nhận thấy sự pha trộn giữa bực tức, buồn phiền, và thậm chí là niềm vui trên khuôn mặt Holo.

Cô gần như có thể nghe thấy tiếng đuôi Holo, xù lên vì khó chịu, đang quất qua quất lại.

“Và anh nghĩ ngọn tháp nằm lạc lõng này được xây dựng như một trạm gác để theo dõi những kẻ buôn lậu sử dụng dòng sông cũ. Nhớ lúc cô Tanya nói rằng cô ấy nghe các thương nhân phàn nàn về con rắn khiến họ không thể bán bất kỳ kim loại nào từ mỏ không? Tất cả các hoạt động buôn lậu có lẽ đã khiến việc kiểm soát trở nên khắt khe đến mức ảnh hưởng đến thương mại hợp pháp.”

Elsa đã hiểu—và chính vì Anh hùng Voragine đã giải quyết vấn đề này mà ông ta đã được trao tặng quyền thu thuế và tước hiệu quý tộc.

“Đó đại loại là truyền thuyết về con rắn khổng lồ của đồng bằng Salonia.”

Khi Elsa qua đêm tại một quán trọ trong những chuyến đi của mình, cô thường bắt gặp những người du hành ngồi quanh bếp lửa trong sảnh lớn, cầm cốc bia trên tay, chia sẻ những câu chuyện thú vị mà họ gặp phải trên đường.

Lawrence chắc chắn cũng đã làm như vậy gần như mỗi đêm khi anh đi cùng Holo.

Khi nhịp điệu kể chuyện quen thuộc của anh kết thúc, Holo đã bình tĩnh lại rất nhiều sau khi bị dắt mũi một cách không thương tiếc.

“Anh thực sự là—”

“—Tuyệt vời, anh biết mà.”

Anh đã kể câu chuyện một cách thú vị nhưng đầy tự tin.

Và, dĩ nhiên, không phải là Holo thực sự nghĩ Lawrence là một con cừu ngốc nghếch.

Chính vì đôi lúc cô có thể dồn anh vào chân tường trong một cuộc tranh luận, giống như anh đã làm với cô, nên cô sói Holo không thể rời xa Lawrence.

“Em đoán là vậy, vâng. Vậy anh định làm gì?”

Elsa ngẫm nghĩ về việc giọng nói của Holo nghe thờ ơ như thế nào, nhưng chỉ trong chốc lát.

Từ những bước chân phía trên, cô có thể đoán Holo đã tiến lại gần Lawrence, có lẽ đang nắm tay anh.

“Anh định chiếm cánh đồng này cho riêng mình rồi dâng nó cho em sao? Sự thật trong tình huống này ắt hẳn rất nhạy cảm với Giáo hội đấy.”

Giọng cô nghe như một con sói đang đùa giỡn, cọ xát và cắn nhẹ con mồi của mình.

“Nếu tất cả đều biết sự thật, nhưng không ai chọn cách tiết lộ nó, thì việc chọn phe sẽ là điều bất khả thi.”

Cô nói đúng. Nếu Lawrence đứng về phía Giáo hội và giành được quyền thu thuế cũng như tước hiệu quý tộc, đồng thời duy trì mức thuế cao đối với các thương gia buôn gỗ, thì họ sẽ phải thừa nhận rằng họ đang bị trừng phạt vì những sai lầm trong quá khứ và thậm chí có thể buộc phải thừa nhận sự thật về con rắn khổng lồ, rằng truyền thuyết do Giáo hội thêu dệt nên chỉ là một câu chuyện bịa đặt.

Lawrence trả lời bằng một giọng điệu gần như thản nhiên: “Ôi chao. Anh chỉ cần thân thiện với cả hai bên là đủ, phải không?”

“...Hả?”

“Anh sẽ nói với các thương nhân buôn gỗ rằng vì những sai phạm do tổ tiên họ gây ra, họ không có hy vọng nào để thuế quan được giảm đáng kể. Nhưng anh sẽ nói với nhà thờ rằng truyền thuyết mà họ đang lan truyền hoàn toàn là một lời nói dối, và những người từng tham gia buôn lậu đã chết từ nhiều năm trước, sau đó đề nghị họ tìm kiếm một thỏa hiệp với các thương gia.”

“...Mm.”

“Tất cả những gì anh cần từ các thương nhân buôn gỗ là một lời cảm ơn nhỏ. Và chúng ta có thể uống rượu thỏa thích với số tiền đó.”

Cái đuôi của Holo có lẽ đã ve vẩy khi nghe đến một phần thưởng rõ ràng như vậy.

“Nhưng... còn cánh đồng thì sao? Anh định từ bỏ nó à?”

Mặc dù cô đã từng do dự khi Lawrence đề cập đến điều này lúc đầu, nhưng bây giờ cô lại có vẻ buồn khi nó sắp vuột khỏi tầm tay mình. Lawrence không trả lời câu hỏi của cô ngay lập tức.

Tuy thoạt nhìn anh có vẻ ngốc nghếch, nhưng người đàn ông này rất thận trọng; như thể anh đang nhẹ nhàng trao tặng cho cô một kho báu.

“Thay vì nhận lời cảm ơn từ Giáo hội, anh sẽ yêu cầu họ gửi một lượng lúa mì nhất định đến Nyohhira mỗi năm.”

“...Anh nói gì cơ?”

“Rồi mỗi năm, khi chúng ta nướng bánh mì bằng chỗ lúa mì đó, chúng ta sẽ nhớ lại những chuyện đã xảy ra hôm nay.”

Bia chẳng còn giá trị gì khi đã uống hết, và tiền xu cũng chỉ là những món đồ trang sức vô dụng.

Nhưng việc nhận lúa mì mỗi năm, thứ được thu hoạch từ mảnh đất đong đầy kỷ niệm, lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Holo dành trọn chuỗi ngày của mình để viết lại mọi chi tiết về các hoạt động của cô. Cô đã từng sợ hãi khi nhìn thấy khuôn mặt của người bạn đời của mình được chiếu sáng bởi ánh đèn của một quán trọ không phải là nhà tắm của cô, không phải là ngôi nhà của cô. Mỗi dòng chữ mới lại như một lời nhắc nhở rằng thời gian trôi qua khác nhau đối với hai người họ. Ngay cả những dòng sông hùng vĩ nhất cuối cùng cũng sẽ cạn kiệt.

Một ngày nào đó, những từ ngừ của cô cũng có thể sẽ cạn kiệt.

Nhưng lúa mì, với muôn vàn hương vị và mùi thơm, có thể tạo ra những ký ức tươi mới.

“Nếu lúa mì không ngon, thì cứ bảo Myuri đến kiểm tra mọi thứ là được. Hoặc em có thể tự đến. Cũng không phải là cách tồi để giết thời gian của em đâu, em biết đấy, xuống đây m—”

Elsa quyết định không nghĩ về lý do tại sao Lawrence không nói hết câu.

Tanya tò mò vểnh tai nghe ngóng, cô sóc thậm chí còn rướn cổ cố nhìn hai người họ, nhưng ngay cả Elsa, một người vốn nghiêm khắc, cũng hiểu rằng nán lại đây thêm nữa sẽ là một sự vô duyên. Cô đặt tay lên vai Tanya và mỉm cười chỉ tay xuống cầu thang.

Trái tim Elsa ngập tràn cảm xúc khi họ bước xuống những bậc thang.

Rời khỏi Tereo, cô đã đi từ nhà thờ này sang nhà thờ khác, với hy vọng được góp chút sức mọn cho hàng giáo sĩ khi họ đang chới với giữa dòng chảy thời đại. Điều cô phải chứng kiến hết lần này đến lần khác là những con người mộ đạo hành động theo những cách không xứng đáng với tư cách là tôi tớ của Chúa, dẫu cho những hành động đó có thể không mang dã tâm gì.

Những điều thật sự chân thành lại hiếm có trên đời này. Người ta thường tô điểm cho mọi thứ bằng những sắc màu tươi sáng hơn; họ thường ngụy trang chúng để có vẻ vĩ đại hơn thực tế.

Nhưng cũng có những lúc, cô lại bắt gặp những khoảnh khắc như thế này.

Khi họ bước ra khỏi cầu thang tháp hẹp và bước vào khu vườn rộng lớn, Tanya thở dài một tiếng.

Elsa ngước nhìn lên đỉnh tháp và không thể kìm nén nụ cười trên môi.

Nụ cười ấy không chỉ vì tình yêu sâu đậm mà cặp đôi dành cho nhau, mà còn vì chính cảm xúc trong cô.

“Đã khá lâu rồi tôi mới cảm thấy nhớ nhà đấy.”

Ngôi nhà của cô lúc nào cũng ồn ào, với những sự việc liên tục xảy ra, và ký ức của cô gần như toàn là những tiếng la mắng.

Nhưng đó mới là nơi cô thực sự thuộc về.

Có lẽ nó không hề ngọt ngào như mối quan hệ của Lawrence và Holo, nhưng gia đình cô vẫn luôn quý giá đối với cô—khi những chiếc chăn cần được đắp lại sau khi bị đạp tung ra trong đêm.

“…”

Nhưng đó là lúc cô nhận ra Tanya đang đứng lặng im bên cạnh cô. Dù cô không nói ra, Elsa vẫn nhìn thấy sự ghen tị và một nỗi buồn hiện rõ trên khuôn mặt Tanya.

Hóa thân sóc này đã sống đơn độc nhiều năm trên núi. Cô ấy từng rất thân thiết với một lữ khách đi qua khu vực này và đã dành thời gian bên người ấy. Cô ấy vẫn đang mỏi mòn chờ đợi sự trở lại của đối phương.

Khi Tanya nhận ra Elsa đang nhìn mình, một vẻ mặt đầy tội lỗi hiện lên trên khuôn mặt cô. Do đó, không nói một lời, Elsa ôm Tanya vào lòng, và họ cứ đứng như vậy một lúc lâu trước khi Elsa lên tiếng.

“Nhà tôi hơi xa đây một chút, nhưng cô có muốn đi cùng tôi không?”

Tanya chớp mắt, đôi môi cô mấp máy những lời không thể thốt ra.

Khóe miệng Elsa cong lên tạo thành một nụ cười trêu chọc, và cô chỉ lên đỉnh tháp.

“Tôi tin rằng cô cũng có quyền theo gót cặp đôi vô tư lự kia, nếu cô muốn.”

Tanya làm theo và cũng nhìn lên, và khi cô nhìn lại Elsa, một vẻ mặt ấm áp đã bao phủ khuôn mặt cô.

“Vâng! Ta rất muốn đi cùng cô!”

Không có lý do gì để Tanya phải ở lại một mình trên núi.

Elsa mỉm cười gật đầu, và sau một khoảnh khắc chần chừ, cô nói thêm: “Biết đâu trên đường đi cô sẽ gặp được một người tử tế thì sao.”

Mắt Tanya mở to và khuôn mặt cô đỏ ửng; cô đưa cả hai tay lên má. “Nhưng, sư phụ...”

Cô sóc đang nhắc đến nhà giả kim, người có lẽ giờ đã qua đời. Cô ấy có thể đã có linh cảm về số phận của ông ấy, nhưng tốt nhất vẫn là không nên để tâm đến điều đó nữa.

“Nhưng sư phụ quá tốt với ta, nên ta không bao giờ có thể... Vậy thì, ừm...”

Cô sóc ấy rõ ràng đang rất thích thú.

Elsa mỉm cười, khẽ cười và nói: “Tôi cũng vậy, vẫn chỉ là một đứa trẻ khi thích nghe chuyện lãng mạn thôi.”

Thế giới này là vậy mà.

Tanya cười rạng rỡ.

“Có rất nhiều chuyện tôi muốn kể!”

“Tất nhiên rồi.”

Elsa tự hỏi liệu có đáng để mời con sói cùng tham gia cuộc trò chuyện không.

Cô ấy có lẽ là cô gái hạnh phúc nhất thế giới này, và hẳn sẽ có rất nhiều câu chuyện khó tin để chia sẻ.

“Chúng ta quay lại thị trấn thôi!” Elsa gọi vọng lên đỉnh tháp, hai tay chống nạnh.

Cô cũng sẽ về nhà.

Và khi cô hình dung ra cảnh mình từ chối bất kỳ công việc nào khác từ vị giám mục tham lam đó, cô cảm thấy vô cùng sảng khoái.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!