Chương 2: Himamushi Nyuudou và Sunekosuki
Ba ngày rồi.
Đã ba ngày kể từ khi Shiroshi mất tích trong biển lửa trên vùng núi Okuhida. Theo lời Takamura — người đang trực tiếp chỉ huy đội cứu hộ — họ vẫn chưa tìm thấy bất kỳ manh mối nào.
"Không chỉ chúng tôi đâu. Cảnh sát và đội cứu hỏa đã phong tỏa toàn bộ khu vực để tiếp tục tìm kiếm, nhưng kết quả vẫn chỉ là con số không."
"...Tôi hiểu rồi."
Takamura lộ rõ vẻ mệt mỏi, và Seiji không đủ can đảm để nhìn thẳng vào mắt ông. Anh chỉ biết cúi gầm mặt xuống.
Vẫn như mọi khi, họ đang ở trong thư phòng. Chiếc ghế bành kiểu Queen Anne nơi Shiroshi vẫn thường ngồi giờ đây trống trải đến lạ kỳ.
"Chà, có chuyện gì vậy?"
Seiji có thể mường tượng ra cảnh Shiroshi nghiêng đầu đầy thắc mắc, nhưng hình ảnh đó giờ chỉ còn tồn tại trong ký ức. Ngay cả ký ức ấy dường như cũng đang mờ dần và tan biến, để lại một luồng khí lạnh vĩnh cửu chạy dọc sống lưng anh.
Dù mới chỉ có ba ngày...
Hay là "đã" ba ngày rồi?
"Một vài vị chức sắc cảm thấy không còn hy vọng sống sót cho Cậu chủ Shiroshi nữa. Theo họ, chúng ta nên coi như cậu ấy đã tử nạn và nhanh chóng chuẩn bị cho bước đi tiếp theo. Hơn nữa, vì hung thủ có thể đã bắt cậu ấy đi, tôi không chắc chúng ta có thể nán lại hiện trường lâu hơn nữa."
"Chuyện đó... đúng là vậy, nhưng mà..."
Cuối cùng, ngay cả kẻ đứng sau vụ việc này là ai vẫn còn là một ẩn số.
Nối gót vụ lùm xùm ở Kyushu, kẻ nào đó đã dùng cuốn nhật ký của Mayuka để dụ Shiroshi và Seiji đến ngôi đền bỏ hoang sâu trong núi đó. Nếu hung thủ biết Shiroshi là người điều hành dịch vụ ủy thác cho Địa ngục, và nếu vụ án mạng của Kuniomi chỉ là một phần của cái bẫy để cầm chân cậu ấy, thì kẻ đó quả thực là một tay vô cùng thâm độc và kỹ lưỡng.
Thêm vào đó, một kết giới khổng lồ đến mức không tưởng đã được giăng ra bao trùm toàn bộ hiện trường. Nhờ vậy mà ngọn lửa không cháy lan ra thế giới bên ngoài, và hỏa hoạn đã được dập tắt với tốc độ nhanh chưa từng thấy, nhưng...
"Nhắc mới nhớ, chẳng phải họ nói đã tìm thấy vài thi thể trong đống đổ nát sao?"
"Vâng, đó là hai cái xác cháy đen của một nam một nữ. Dựa trên kết quả giám định răng, họ được cho là hai dân làng đã mất tích nửa tháng nay."
Kazutora và Mayuka. Cuối cùng, cả hai đều đã chết mà không hé môi nửa lời về vụ án mười sáu năm trước.
"Chẳng lẽ kẻ giăng bẫy chúng ta cũng đã giết luôn họ sao?" Seiji hỏi.
"Cảnh sát tin rằng đó là một vụ sát nhân rồi tự sát. Dựa trên tình trạng thi thể, họ cho rằng gã đàn ông có lẽ đã dùng thứ gì đó như dải Obi để siết cổ người phụ nữ trước, sau đó đổ xăng lên đầu mình và tự thiêu... Tuy nhiên, không ai biết chắc chắn cả. Beniko là nhân chứng duy nhất, nhưng cô ấy lại đang trong tình trạng như cậu đã thấy." Giọng Takamura đầy vẻ lo lắng.
Seiji nắm chặt hai tay thành nắm đấm đặt trên đầu gối.
"Cậu chủ Shiroshi... mất rồi."
Lời nói của Beniko vẫn văng vẳng bên tai anh.
Lúc đó, cô nói mình đang trốn gần đó theo lệnh của Shiroshi. Nói cách khác, cô đã bí mật quan sát hai người họ như một Ninja, giống như cách cô đã làm trong vụ gia tộc Shidou. Điều đó có nghĩa là cô có lẽ đã chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra trong quán trọ sau khi Seiji xuống núi.
Thế nhưng...
"...Tôi không thể nhớ được."
Ngay cả sau khi Takamura xuất hiện từ hư không như thường lệ và đưa cả cô lẫn Seiji đi, Beniko vẫn cứ lặp đi lặp lại những lời đó như một cỗ máy.
Dường như cô đã gặp phải một cú sốc lớn khiến trí nhớ bị tổn thương tạm thời. Nếu một chuyện tồi tệ đến mức đó đã xảy ra với Shiroshi...
Cảm giác buồn nôn trào dâng, Seiji đưa tay che miệng.
Cho đến trước khi chuyện này xảy ra, anh thực sự chưa bao giờ mảy may nghĩ đến việc Shiroshi có thể chết.
"Tôi hứa chúng ta sẽ cùng nhau về nhà. Thế nên, hãy đợi tôi nhé."
Anh chưa bao giờ nghĩ rằng lời hứa đó cuối cùng lại trở thành một lời nói dối.
Cậu ấy còn sống.
Cậu ấy sẽ trở về.
Tất cả những gì Seiji muốn là tin vào điều đó, vậy mà...
Ký ức về Inokoshi nằm chết trong phòng tắm ẩm mốc đột ngột xẹt qua tâm trí, anh cố nuốt ngược nỗi đắng cay đang trào lên.
Mình biết chứ.
Khi một ai đó chết đi, thế là hết. Sẽ chẳng còn gì sau đó nữa.
Không có gì hết.
"Tuy nhiên, cuộc tìm kiếm kẻ chủ mưu vẫn đang được tiến hành song song. Nếu phía bên đó có tiến triển gì, có lẽ chúng ta vẫn còn cơ hội."
"Ông cũng là người dẫn đầu cuộc điều tra đó sao, Takamura?"
"Không, chính Đại vương Diêm Ma đã trực tiếp cầm trịch. Vì Shinno Akugorou bị nghi ngờ có liên quan, nên có khả năng thỏa thuận với Bộ Diêm Ma đã bị vi phạm."
À. Vậy là với tư cách là người phán xử, ông ấy cần tìm ra kẻ phải chịu trách nhiệm cho sự vi phạm này.
Thỏa thuận được thông qua Bộ Diêm Ma đã quy định rằng, cho đến khi cuộc thi đưa những kẻ tội đồ xuống Địa ngục ngã ngũ, không bên nào được phép làm hại bên kia. Nếu vụ việc này hóa ra là một âm mưu của phe cánh Shinno Akugorou, thì đó chính là hành vi vi phạm trắng trợn nhất có thể tưởng tượng được.
"Ông ta khăng khăng rằng mình không biết gì về chuyện đó, nhưng có lẽ sự thật không phải vậy... Tuy nhiên, hiện tại, chúng ta phải coi ông ta là vô tội cho đến khi chứng minh được điều ngược lại."
"Vậy, liệu có khả năng Odoro cũng tham gia vào...?" Seiji chưa kịp dứt câu đã vội lắc đầu. Không đâu. Không đời nào.
Chuyện đó hoàn toàn không giống phong cách của hắn.
Odoro Rindou là một gã kiêu ngạo luôn nhìn Shiroshi bằng nửa con mắt chỉ vì cậu là bán yêu. Đối với hắn, việc sử dụng tiểu nhân kế với một đối thủ mà hắn coi thường như vậy sẽ là một nỗi nhục nhã muôn đời. Gọi hắn là kẻ "tự trọng" thì có vẻ hơi quá lời, nhưng nói một cách khái quát, hắn là một gã ngốc thượng hạng.
"Chúng tôi đang yêu cầu cậu ta ở yên tại văn phòng thám tử để đề phòng, nhưng đúng vậy, khả năng cậu ta tham gia là cực kỳ thấp."
"Nhưng nếu vậy thì là ai...?"
Chính xác. Câu hỏi đó lại đưa họ quay về vạch xuất phát. Ngay từ đầu, Seiji chỉ biết được đôi chút về tình hình hiện tại. Takamura giữ cho anh được cập nhật thông tin như thế này hoàn toàn là vì lòng tốt.
Mặc dù mình chắc chắn rằng ông ấy cũng đang lo lắng cho Shiroshi không kém.
"Nhắc mới nhớ, ông đã quen biết Shiroshi lâu chưa?" Seiji hỏi.
"Vâng, có thể nói là vậy. Tôi làm quen với Cậu chủ Shiroshi từ trước khi cậu ấy đủ lớn để có thể nhớ được tôi. Suy cho cùng, chính tôi là người đã đặt bùa chú để ngăn người lạ đến gần dinh thự của cậu ấy mà."
Chà.
"Kết quả là thỉnh thoảng tôi lại ghé qua để nói chuyện phiếm và chơi cờ Sugoroku với cậu ấy. Lần đầu gặp mặt, tôi đã nghĩ: 'Một đứa trẻ mà lại mang trong mình sức mạnh kinh hồn thế này thì thật chẳng ổn chút nào'... và cậu ấy thực sự cũng chẳng thay đổi là bao."
Chắc chắn rồi. Seiji gật đầu, nở một nụ cười nhạt.
Ánh mắt Takamura dịu lại. "Và vì thế, tôi tin rằng cậu ấy vẫn còn sống. Sau tất cả, cậu ấy là Cậu chủ Shiroshi kia mà."
Ông cúi chào cung kính rồi cáo lui và biến mất.
Sau đó, Seiji chỉ còn lại một mình với chiếc ghế bành Queen Anne trống vắng.
Chắc mình nên lên lầu một lát.
Với một tiếng thở dài nhẹ, anh đứng dậy và nhanh chóng rời khỏi thư phòng, như thể đang chạy trốn khỏi nó. Ba người họ vừa mới vui vẻ dùng trà ở đây chỉ ba ngày trước. Giờ đây, điều đó cảm giác như một giấc mơ xa vời.
Ngay lúc đó, mắt anh chạm phải bể cá vàng bên cửa sổ lồi.
"...Hả?"
Có gì đó không đúng. Seiji dừng lại, bối rối.
Mụn trắng trên đầu cá vàng biến mất rồi sao?
Không thể nào. Mùa sinh sản kết thúc chỉ trong vòng ba ngày thôi ư?
Cái sự lười biếng này cũng quá mức rồi đấy.
Nó không bị bệnh chứ? Anh vội vàng tìm kiếm thông tin trên điện thoại, và rồi...
"Cái gì?"
...Anh chớp mắt. Anh vừa vấp phải một thông tin khó lòng tin nổi.
Đó là một trang web giải thích cách phân biệt cá vàng đực và cái.
Nếu lỗ hậu môn có vẻ hơi lồi ra khi nhìn từ bên cạnh, đó là cá cái — nghĩa là con cá vàng anh đang nhìn là một "cô nàng".
Không, nhưng chỉ có cá đực mới phát triển mụn trắng (ngọc châu), và mình biết chắc chắn trước đây nó có mà.
Lẽ nào cá vàng có thể tự dưng thay đổi giới tính sao? Hay chúng sẽ biến lại thành đực nếu bạn đổ nước nóng vào? Đây là bộ anime thập niên 90 nào thế này?
Khi anh đang nhìn chằm chằm vào cái lỗ hậu môn đó...
"Hóa ra cậu ở đây."
Khi anh quay lại, Beniko đã đứng đó từ lúc nào.
Cô mặc bộ trang phục hầu gái Nhật Bản màu đỏ đen quen thuộc và bưng một chồng quần áo cao ngất. Giọng cô hơi khàn, nhưng thoạt nhìn, trông cô vẫn như mọi khi. Chỉ có điều...
"Ơ, khoan đã, cô dậy đi lại thế này có ổn không đấy?"
Dù sao thì cô cũng đã từ chối mọi sự chăm sóc, không tiếp khách và không chịu ra khỏi phòng suốt mấy ngày qua. Seiji đã phải treo những túi cháo ăn liền và nước thạch mua từ cửa hàng tiện lợi lên tay nắm cửa phòng cô để trấn an bản thân; thực lòng mà nói, anh đã lo lắng đến phát điên rằng có chuyện tồi tệ gì đó cũng sẽ xảy ra với Beniko.
"Tôi xin lỗi vì đã làm cậu lo lắng. Tuy nhiên, tôi không thể cứ nằm bẹp trên giường khi không có ai khác làm vậy."
"Dù thế thì, ý tôi là, cô không nên ép xác... Khoan đã, đó chẳng phải là áo khoác lông vũ của tôi sao?"
"Nó bẩn quá, nên tôi định mang đi giặt khô."
"Ối. Ừ thì, đúng là nó dính đầy bám muội than và vết cháy sém thật."
Có vẻ như sau khi thấy anh để mặc chiếc áo đầy tro bụi suốt ba ngày mà không nhận ra, cô đã mất kiên nhẫn và đi gom nó lại. Nhìn qua, trông anh không chỉ giống một kẻ vô gia cư giả danh; anh trông giống hệt một tên tội phạm phóng hỏa đang tháo chạy khỏi hiện trường.
"Ờm, nếu cô muốn, tôi có thể mang nó ra tiệm giặt..."
"Không, đừng phiền phức. Quan trọng hơn, thứ này đã ở trong túi áo."
Beniko đưa ra một bao thuốc lá quen thuộc. Giờ cô mới nhắc, suốt ba ngày qua, ý nghĩ về việc hút thuốc đã hoàn toàn bay biến khỏi tâm trí anh.
Anh cứ ngỡ cô sẽ tịch thu chúng và đưa cho anh mực khô để nhai thay thế như mọi khi, nhưng...
"Tôi nghĩ mình nên trả lại chúng, nếu cậu muốn."
"Hả? Tôi được phép hút thuốc sao?"
"Vâng, nếu điều đó khiến cậu cảm thấy khá hơn."
Theo cách riêng của mình, Beniko đang lo lắng cho Seiji.
Điều đó khiến anh thấy vừa ngượng ngùng vừa thảm hại. Cú sốc của Beniko đã khiến cô nằm liệt giường cho đến tận vài phút trước; nỗi lo âu của Seiji thậm chí chẳng bằng một phần mười của cô, vậy mà...
"Tôi sẽ ra ngoài một lát."
Anh khẽ cúi chào cô rồi tiến về phía lối vào. Nghĩ rằng mình nên ra ngoài cho tỉnh táo đầu óc, anh bước qua cánh cửa đang mở mà không kịp mặc áo khoác.
Cây hồi thiêng đại thụ đang đứng sừng sững ngay đó. Đó là một loại cây thường xanh với những tán lá không bao giờ đổi màu, nhưng giờ đang là mùa thu, nó đã cho ra những quả hình ngôi sao trông giống như hoa hồi.
Tên gọi khác của loài cây này có nghĩa là "quả ác", và đúng như vậy, những quả của nó cực độc. Độc đến mức, dù đây được coi là loài cây linh thiêng giúp thanh tẩy tà ma, nhưng đồng thời nó cũng bị khiếp sợ như một biểu tượng của chính cái chết.
Co người lại trước cơn gió thu se lạnh, Seiji ngồi xuống lối dẫn vào cửa chính. Theo một thói quen gần như vô thức, anh vỗ nhẹ vào bao thuốc, định lấy điếu thuốc vừa bật ra, nhưng...
"Hả?"
...chẳng có điếu nào bật ra cả. Có thứ gì đó bị kẹt trong bao. Khi Seiji nhìn vào bên trong, anh phát hiện một mẩu giấy cuộn lại nằm giữa những điếu thuốc xếp chặt.
Cái gì thế này?
Rút nó ra, anh mở mẩu giấy. Đó là một mảnh giấy chỉ bằng lòng bàn tay, với một dòng chữ duy nhất ở giữa.
Tôi vẫn còn sống, nên đừng lo lắng. Hãy hỏi Beniko để biết chỉ thị tiếp theo.
Nét chữ đó là của Shiroshi.
"Hả?"
Trong một khoảnh khắc, Seiji giật mình đến mức nín thở. Anh dáo dác nhìn quanh theo bản năng; dĩ nhiên, chẳng thấy bóng dáng Shiroshi đâu cả.
Cậu ấy không thể lẻn về nhà trong im lặng mà chúng ta không nhận ra, đúng không?
Anh vội vàng lắc đầu, gạt phăng cái ý nghĩ nực cười đó. Không, thôi nào, không đời nào. Cùng lúc đó, anh sực nhớ ra một chuyện. Ba ngày trước, lần cuối cùng anh nhìn thấy Shiroshi, anh chắc chắn rằng...
"À, cậu làm rơi đồ kìa."
"Ồ, cảm ơn."
Trong cuộc đối thoại đó, Shiroshi đã đưa cho anh bao thuốc này.
Lúc đó anh chỉ nghĩ đơn giản là chúng rơi ra khỏi túi khi anh mặc áo khoác, nhưng...
Có lẽ mẩu giấy này đã nằm sẵn trong đó rồi sao?
Nhớ lại thì, khi Seiji bị lạc và đi lạc vào nhà kho, chiếc áo khoác lông vũ của anh đã nằm trong căn nhà gỗ suốt thời gian đó. Nếu Shiroshi lấy bao thuốc từ túi áo anh và nhét mẩu giấy vào lúc đó...
Lẽ nào cậu ấy đã biết mọi chuyện sẽ kết thúc như thế này ngay từ đầu sao?
Và ngay cả khi biết điều đó, cậu ấy vẫn chắc chắn mình có thể sống sót.
Nghĩa là...
"...Cậu ấy còn sống?"
Không, khoan đã. Vì Seiji không có chút manh mối nào về việc cậu ấy đã thoát khỏi hỏa ngục đó bằng cách nào hay đang trốn ở đâu, nên việc mù quáng tin vào điều này có lẽ là đỉnh cao của sự ngu ngốc.
Dù vậy, tin tưởng Shiroshi là tất cả những gì anh có thể làm lúc này.
"Beniko!"
Khi anh lao vào thư phòng với một tiếng hét, Beniko quay lại, đặt một ngón tay lên môi. "Nếu điều đó khiến cậu thấy khá hơn, thì tôi rất mừng."
Đến lúc này, Seiji tin chắc mình đã hiểu ra vấn đề.
Beniko cũng đã đọc mẩu giấy đó. Giống như Seiji, cô tin chắc Shiroshi còn sống — đó hẳn là những gì đang diễn ra. Đó là lý do cô có thể gượng dậy, trong khi trước đó trông cô gần như đã hoàn toàn tuyệt vọng.
Nhưng...
Ờm, nếu mình không được phép nói về chuyện đó... có nghĩa là có ai đó đang nghe lén chúng ta sao?
Đó hẳn là ý nghĩa cử chỉ của cô. Cái "ai đó" kia có thể là kẻ chủ mưu đứng sau chuỗi sự việc này.
Nghĩ lại thì, nếu Beniko tìm thấy bức thư trước, cô hoàn toàn có thể nói thẳng với Seiji. Việc cô phải tốn công gửi nó cho anh thông qua bao thuốc lá có nghĩa là tình thế đã buộc cô phải làm vậy.
"Ờm, Beniko, tôi có một thỉnh cầu." Đi đến đứng ngay trước mặt cô, Seiji hít một hơi thật sâu. "Làm ơn hãy nói cho tôi biết tôi có thể làm gì. Chỉ một gợi ý thôi cũng được. Nếu có dù chỉ một việc..."
Vô tình, giọng anh run lên đầy khẩn thiết. Trong một khoảnh khắc, đôi mắt đen sâu thẳm của Beniko dao động với một cường độ bất ngờ, rồi cô nhanh chóng cúi xuống. "Thực ra, Cậu chủ Shiroshi có dặn tôi chuyển một lời nhắn cho cậu nếu cậu trở về sau chuyến hành trình một mình."
"Ch-chuyện gì vậy?"
"Làm ơn hãy ghé thăm văn phòng thám tử của Odoro và ở lại đó lâu nhất có thể."
"...Cái gì?"
Cảm giác này chắc hẳn là cảm giác khi bị một con hồ ly tinh lừa gạt. Anh hiểu những gì cô đang nói. Đó là tiếng Nhật rành mạch, nhưng...
"Hả? Cậu ấy muốn tôi đến quấy rối Odoro sao?"
"Không. Thực ra, cậu ấy muốn cậu làm trợ lý cho anh ta trong vài ngày."
"CÁI GÌ?!"
Giọng anh vỡ ra đầy kịch liệt.
Anh thà chấp nhận nếu cô bảo anh đi Alaska săn gấu xám còn dễ dàng hơn. Chưa kể nhiệm vụ này cũng nguy hiểm chẳng kém gì việc đó.
"Ch-chuyện này rốt cuộc là có ý gì cơ chứ?"
"Tôi thực sự không thể nói được. Tuy nhiên, cậu ấy nói Seiji là người duy nhất cậu ấy có thể nhờ cậy."
...Có lẽ anh nên giả vờ như mình chưa nghe thấy điều này.
Thực lòng mà nói, trừ khi anh bịt tai chạy trốn ngay bây giờ, nếu không chẳng có gì đảm bảo anh sẽ giữ được mạng sống.
Nhưng... Seiji nuốt nước bọt khan. Đâu đó trong khoảnh khắc ấy, đôi môi anh khô khốc và dính chặt vào nhau, anh phải cố sức mới mở lời được.
"Ờm. Văn phòng thám tử Rindou ở đâu vậy?"
...Và đó là cách Seiji dừng chân tại nơi này.
Theo ứng dụng bản đồ trên điện thoại, tòa nhà anh đang ngước nhìn chính là điểm đến.
Đây thực sự là nơi đó sao?
Đó là một tòa nhà ba tầng cũ kỹ đến thảm thương. Những dây leo khô héo bò lổm ngổm trên lớp tường đá đen kịt, như thể đang cố che giấu những vết nứt nẻ.
Dù đã gần ba giờ chiều, nhưng mặt trời vẫn bị che khuất sau một lớp mây dày đặc và u ám.
Tòa nhà bệ vệ này nằm trong một khu kinh doanh cao cấp và sang trọng ngay giữa lòng Tokyo, rõ ràng đã may mắn thoát khỏi sự tàn phá của chiến tranh. Kết hợp với những đám mây mưa đen kịt lơ lửng trên đầu, khung cảnh trông chẳng khác nào một bộ phim kinh dị.
Một ngôi nhà ma... Chà, ừ thì, chắc chắn là vậy rồi.
Dù sao thì, đây cũng là trụ sở của "Thám tử triệu hồi cái chết". Đã thế, hắn còn là con trai và là người thừa kế của Ác thần Shinno Akugorou. Đối mặt với một kẻ như thế, những cư dân của một ngôi nhà ma bình thường chắc cũng phải bỏ chạy không kịp xỏ giày.
Seiji nuốt nước bọt. Anh có cảm giác mình như một kẻ đang sắp sửa bước vào chuồng của một loài mãng thú tàn bạo. Chỉ đứng nhìn từ xa thôi mà da gà đã nổi rần rần và nhịp tim thì đập loạn xạ.
Khi anh tiến gần đến lối vào chính, anh thấy một bộ cửa kính đôi dưới ánh đèn cầu thủy tinh kiểu cũ. Anh không thấy bóng người nào ở phía bên kia. Anh cũng chẳng thấy thứ gì giống như chuông cửa. Mà kể cả có đi chăng nữa, anh cũng chẳng biết phải nói gì.
"Làm ơn hãy ghé thăm văn phòng thám tử của Odoro và ở lại đó lâu nhất có thể."
Dù có nghĩ thế nào đi chăng nữa, chuyện này cũng thật điên rồ. Tuy nhiên, rõ ràng đây là việc duy nhất anh có thể làm cho Shiroshi, và nếu vậy...
Mình không thể lãng phí thời gian để lo lắng về vẻ ngoài nữa.
Tự rủa thầm trong bụng, Seiji bắt đầu bước bước chân đầu tiên.
Nhưng ngay khi anh làm vậy...
Nào, Seiji, chúng ta đi chứ?
Seiji cảm thấy như vừa nghe thấy giọng nói đó vang lên từ phía trước nửa bước chân, và đột ngột, tim anh thắt lại. Tuy nhiên, dù anh có chớp mắt bao nhiêu lần, anh cũng không thấy bóng dáng của bộ Kimono trắng đâu cả.
Anh chỉ có một mình.
Sống mũi cay cay, anh ngửa cổ ra sau, nhìn lên cao để xua đi cảm giác đó. Một giọt mưa rơi xuống má anh, như thể bầu trời vừa nhổ nước bọt vào anh vậy.
Những đám mây kia cuối cùng cũng đã bắt đầu trút xuống.
"X-xin lỗi làm phiền."
Khi anh ngập ngừng bước qua cánh cửa, anh thấy mình đang đứng trong một hành lang hẹp. Tiến về phía trước dường như là lựa chọn duy nhất.
Có một chiếc thang máy cũ ở cuối hành lang. Nó có một cánh cửa kéo bằng đồng đã được đánh bóng đến sáng loáng, và nó cũng cổ kính không kém gì vẻ ngoài của tòa nhà.
Cái thứ này vẫn hoạt động được chứ?
Anh thực sự hy vọng nó không được thiết kế để chơi khăm người đi bằng cách đứt cáp và đưa họ thẳng xuống Địa ngục ngay khi vừa bước vào.
A xì, liều vậy. Anh nhảy vào trong và nhấn mũi tên "lên". Anh nghe thấy tiếng bánh răng khớp vào nhau, và rồi chiếc thang máy đi lên tầng hai, rung lắc và kêu lạch cạch đầy điềm gở.
Một tiếng "đing" uể oải vang lên, và rồi...
"Hả?"
Căn phòng anh thấy rộng hơn nhiều so với tưởng tượng.
Anh cứ ngỡ mình sẽ bước ra một sảnh thang máy, nhưng không gian này lại mở toang từ tầng một cho đến tận tầng ba. Mỗi tầng dường như được thiết kế theo kiểu căn hộ Loft. Seiji hiện đang đứng ở tầng hai.
"Ch-chuyện gì thế này?"
Anh cảm thấy như mình vừa bị bỏ bùa mê vậy.
Khi anh tò mò nhìn quanh, anh giật mình khi thấy toàn bộ bức tường bên phải — cao trọn vẹn ba tầng — bị chiếm trọn bởi một kệ sách khổng lồ.
Sàn nhà được làm bằng gỗ sồi đen bóng loáng. Gần thang máy có một bộ sofa tiếp khách bọc da. Phía sau là một khu vực trông giống như thư phòng, bức tường phía sau xếp đầy các kệ tài liệu. Một chiếc laptop mỏng dính đặt trên một chiếc bàn làm việc kiểu cổ điển. Trông nó y hệt văn phòng của một thám tử tư thường thấy trong các bộ phim truyền hình nước ngoài.
"Vậy đây thực sự là..."
...văn phòng thám tử Rindou?
Ngay lúc đó, Seiji nghe thấy một loạt âm thanh kim loại va chạm.
Anh giật thót mình, quay đầu về phía âm thanh đó. Có một cầu thang xoắn ốc bằng sắt ở bên trái anh, và có người đang đi xuống từ tầng ba.
Ôi hỏng bét!
Seiji lao ra khỏi thang máy và vội vàng tìm chỗ trốn.
"Vâng, như tôi đã nói, ngay cả khi đó là yêu cầu trực tiếp từ Sở Cảnh sát Thành phố, lần này tôi vẫn từ chối," một giọng nói nghe rất quen vang lên. "Một cá nhân khá rắc rối đã đặt tôi vào tình trạng quản thúc tại gia."
Có một tiếng hét nghẹt vang lên từ loa của chiếc điện thoại di động. "Hả?! Đừng có bốc phét. Nếu chúng tôi ném cậu vào chuồng thú ở sở thú, cậu cũng sẽ dùng một tay bẻ gãy cái lồng đó thôi; cậu là loại người như thế mà."
"Chà, tôi dự định coi đây là một kỳ nghỉ và thư giãn. Chỉ mới ba ngày trước, tôi đã bị buộc phải cùng ông đi phục kích suốt đêm còn gì."
"Đừng có nói dối tôi! Cậu đã lăn ra ngủ say như chết chỉ trong vòng ba giây, còn đeo cả miếng che mắt nữa chứ!"
Cuối cùng, Odoro cũng xuất hiện. Hắn chỉ mặc áo sơ mi; chiếc áo khoác vest vắt trên cánh tay đang cầm chiếc điện thoại nắp gập đang bật loa ngoài. Tay kia của hắn đang khéo léo thắt cà vạt.
Từ cuộc trò chuyện có thể nghe thấy rõ mồn một, hắn dường như đang nói chuyện với một thám tử từ Sở Cảnh sát Thành phố.
Không, khoan đã. Gã này vừa mới ngủ dậy sao? Bây giờ là ba giờ chiều rồi đấy.
Seiji lùi lại trong cú sốc, nhưng anh kịp nén lại lời chỉ trích thầm lặng, và rồi...
"Xin lỗi. Có vẻ như văn phòng tôi đang có vấn đề về chuột."
Bước chân của Odoro dừng lại.
Một tiếng bíp vang lên khi hắn kết thúc cuộc gọi.
"...Xin lỗi vì đã làm phiền."
Theo phản xạ, Seiji quay ngoắt lại, cố chạy ngược vào thang máy, nhưng—
Rầm. Bụi bay mịt mù trước mũi anh.
Cú đá của Odoro đã cắm phập vào tường, chặn đứng đường lui của Seiji. Nếu mục tiêu của hắn lệch đi chỉ vài centimet, bàn chân đó đã nghiền nát hộp sọ của Seiji rồi.
Cái kiểu chào hỏi này chẳng phải là hơi đáng sợ quá mức cần thiết sao?
Run rẩy, Seiji đứng chôn chân tại chỗ, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng.
"Giờ thì." Đóng chiếc điện thoại nắp gập lại cái "tạch" rồi đút vào túi, Odoro bẻ đốt ngón tay kêu răng rắc. "Cho hỏi điều gì đã đưa cậu đến văn phòng của tôi vậy?"
"Ờm... Ờ, tôi hy vọng anh có thể cho tôi ở lại đây một thời gian."
"Tôi hiểu rồi. Tại sao?"
"N-nếu có bất cứ việc gì tôi có thể làm, như việc vặt, hay là, ờm..." Anh không thể thốt ra câu: Hãy nhận tôi làm trợ lý.
"...Ồ hố?" Khuôn mặt Odoro vẫn vô cảm như một chiếc mặt nạ Noh, nhưng một bên lông mày của hắn nhếch lên. Sau đó hắn khịt mũi khinh bỉ. "Đã đi tìm chủ mới rồi sao? Thay đổi phe cánh ngay cả khi chưa rõ chủ cũ còn sống hay đã chết. Quả là một con chó trung thành. Hoặc tôi định nói như vậy, nhưng..."
Đột ngột, hắn vươn tay chộp lấy cổ họng Seiji. Những ngón tay xương xẩu của hắn siết chặt quanh khí quản của Seiji như một chiếc vòng cổ, móng tay đâm sâu vào da thịt anh. Từ từ rướn người tới để mặt đối mặt với Seiji, hắn nói bằng một giọng lạnh thấu xương.
"Ai đã xúi giục cậu làm việc này?"
Seiji không hiểu hắn có ý gì. Ngay cả khi hiểu, anh cũng không ở trong tình trạng có thể trả lời.
"Tôi thực sự nghi ngờ việc cậu đủ thông minh để từ bỏ chủ nhân của mình. Suy cho cùng, cậu là kẻ luôn phó mặc mọi thứ vào tay người khác. Điều đó có nghĩa là việc cho rằng cậu đến đây theo gợi ý của ai đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Tôi nói sai sao?"
Hắn đã đoán trúng phóc. Seiji trông như thể cổ họng đã bị nhét đầy chì, và anh không thể nén nổi một tiếng rên rỉ trước nỗi đau từ những móng tay đó — hay đúng hơn, trước sự sắc lẹm trong lời nói của Odoro đang đâm thấu vào anh.
Rốt cuộc thì, đúng như lời hắn nói.
Suốt ba ngày kể từ khi Shiroshi biến mất, tất cả những gì Seiji có thể làm là chờ đợi. Anh vẫn không thực sự biết mình nên làm gì.
Tuy nhiên...
"Dù vậy, tôi phải làm việc này, bất kể thế nào đi nữa." Seiji hoàn toàn chân thành về điều đó. Cuối cùng, chỉ có một lý do: "Shiroshi đã tin vào những gì tôi thấy, nên tôi nghĩ nhiệm vụ của tôi là tin vào những gì cậu ấy nghĩ. Điều đó có nghĩa là ngay bây giờ, đây là việc duy nhất tôi có thể làm..."
Những lời đó gần như là một lời cầu nguyện.
Khi Odoro nghe thấy điều đó, vì lý do nào đó, hắn bỗng im lặng. Hắn há miệng định nói gì đó nhưng rồi lại ngậm lại ngay lập tức. Sau đó, hắn đột ngột tặc lưỡi.
"...Thật sao?" hắn nói, gần như là thì thầm. Tay hắn siết chặt hơn quanh cổ Seiji, móng tay lún sâu đến mức rướm máu. "Nói cho tôi biết điều này: Nếu tên bán yêu đó đã mất tích, thì chính xác là cậu đã học được 'Shiroshi nghĩ gì' ở đâu và bằng cách nào?"
Ồ. Biểu cảm của Seiji đã phản bội anh. Không ổn rồi. Anh vừa lỡ lời tự mình chuốc họa vào thân.
"Ngay từ đầu tôi đã thấy lạ rồi. Liệu cái tên xảo quyệt đó có thực sự ngoan ngoãn biến thành tro bụi chỉ vì một vụ cháy rừng cỏn con không? Có vẻ như khả năng cậu ta giả vờ mất tích và đang âm mưu điều gì đó trong bóng tối là cao hơn nhiều. Và cậu thấy đấy, ngay khi tôi bắt đầu nghi ngờ điều đó, thì cậu xuất hiện."
...Ai mà ngờ được hắn lại nhận ra khả năng đó ngay từ lần thử đầu tiên chứ? Theo một cách nào đó, có lẽ gã này có cùng tần số với Shiroshi.
"Được rồi. Cậu sẽ ở lại với tôi cho đến khi cậu chịu khai ra. May mắn là tôi chẳng có gì ngoài thời gian, và việc thiếu giải trí đã làm tâm trạng tôi tệ đi. Bẻ gãy một cánh tay chắc cũng không làm bẩn sàn nhà lắm đâu."
Thôi xong. Nói là anh sắp bị giết thì vẫn còn là một cách nói quá nhẹ nhàng. Seiji rùng mình, mồ hôi vã ra như tắm. Ánh mắt anh dáo dác nhìn quanh, thì...
Gò má của Odoro giật giật.
Hả? Seiji nghiêng đầu, và rồi tai anh nghe thấy một tiếng rung rè rè nhỏ. Đó là chiếc điện thoại nắp gập trong túi của Odoro. Sự xuất hiện cực kỳ đúng lúc này — liệu có thể là...?
"Xin lỗi vì đã ngắt quãng. Tôi có một thông báo khẩn cấp liên quan đến Cậu Seiji."
Đúng như anh mong đợi, đó là Takamura. Không nói một lời, Odoro đưa chiếc điện thoại ngay trước mũi Seiji. Trên đó là màn hình chat Line hiển thị một cuộc gọi đang diễn ra.
"Sau khi nhận được tuyên bố từ Cậu chủ Shiroshi và bàn bạc nhiều lần, chúng tôi ở Bộ Diêm Ma đã quyết định chính thức công nhận Cậu Seiji là một thành viên thuộc phe cánh của Sanmoto Gorozaemon. Do đó, xin lưu ý rằng nếu anh cố ý làm hại cậu ấy, anh sẽ bị coi là vi phạm thỏa thuận và thua cuộc mặc định."
Nhân tiện, rõ ràng quyết định này là một ngoại lệ của ngoại lệ.
"Dù sao thì, thú cưng thời hiện đại cũng thực tế được coi là thành viên trong gia đình mà."
...Được rồi, phải cố chịu thôi. Nếu mình mà bình luận về câu đó là mình thua.
"Tôi cũng được biết là hiện tại cậu ấy đang làm phiền văn phòng của anh. Tôi sẽ đến đón cậu ấy vào ngày mai, vì vậy làm ơn hãy trông nom cậu ấy ở đó trong ngày hôm nay."
Một âm thanh "vút" phát ra từ màn hình.
Chiếc nhãn dán (sticker) ông ấy gửi là hình một chú chó Shiba Inu hoạt hình đang cúi chào, trên lưng mang một túi đồ, kèm theo dòng chữ: Cảm ơn vì đã đón tiếp.
"...Cậu nghĩ cái này là cái gì?" Odoro hỏi.
"Ờm, tôi sẽ bảo ông ấy tinh ý hơn một chút khi dùng nhãn dán—"
"Tôi không có ý đó."
"Tất nhiên là anh không có ý đó rồi!"
Thấy mình bị xách ngược lên bởi cổ áo và cảm nhận được sát khí thực sự, giọng Seiji lạc đi.
Rồi điện thoại lại phát ra tiếng "vút" nữa.
"Nhân tiện, miễn là Cậu Seiji đi cùng, anh có thể ra ngoài bất cứ khi nào anh muốn."
Rõ ràng, việc ra ngoài được cho phép nếu hắn có một "người giám hộ". Khi Odoro cất chiếc điện thoại đi, hắn trông như thể già đi cả chục tuổi chỉ trong tích tắc. "Xét về mặt bồi thường, cái giá này quả là..." Hắn dường như đã nuốt lại từ rẻ mạt.
Ngay lúc đó, căn phòng dường như rung chuyển, như thể một trận động đất vừa ập đến.
"Hả?"
Đầu gối Seiji khụy xuống, khiến anh ngã sụp xuống sàn.
Hả? Gì thế?
Anh vội vàng cố gắng đứng dậy, nhưng đôi chân quá yếu để có thể nâng đỡ cơ thể.
Anh nhận ra những triệu chứng này: Anh đã từng rơi vào tình trạng như thế này trước đây, khi anh đã nhịn ăn ba ngày trước kỳ lương ở chỗ làm thêm và đường huyết của anh bị tụt xuống quá thấp. Về cơ bản, anh đã ngất xỉu vì đói.
Nhưng không phải là mình thấy đói hay gì...
Ngay khi anh bắt đầu thắc mắc về điều đó, một nhận thức gây sốc ập đến.
Anh không thể nhớ nổi mình đã ăn một bữa nào trong suốt ba ngày qua. Anh đã ghé qua cửa hàng tiện lợi hàng ngày để mua thức ăn cho Beniko, nhưng anh đã hoàn toàn quên mất bữa ăn của chính mình.
"Hừm. Khi cái màn kịch làm con chó vô dụng này được diễn đến mức này, nó gần như mang tính đe dọa đấy," Odoro nói, xoa cằm. Hắn trông có vẻ thực sự ấn tượng.
Mặc xác tôi đi!
Seiji đã rất muốn hét thẳng vào mặt hắn những lời đó, nhưng nếu gã này thực sự để mặc anh một mình, anh rất có thể sẽ chết gục ở một cái xó xỉnh nào đó.
Đúng lúc đó, chiếc điện thoại nắp gập trong túi Odoro rung lên, và Seiji nghe thấy một tiếng "Tặc!" đầy uy lực. Lại là Takamura. Odoro biến mất xuống tầng dưới, rồi quay lại với một túi giấy nâu.
"Cúi đầu xuống và lùi lại một bước."
"Ơ, khoan đã, anh định làm gì?" Seiji gầm gừ, nhưng Odoro ném cho anh một cái nhìn đe dọa, nên anh đành miễn cưỡng cúi đầu và lùi lại.
Và rồi—
"Á!"
Cái túi rơi khỏi tay Odoro, giáng một cú trực diện vào sau đầu Seiji với một tiếng "cốp" khô khốc.
"Thứ lỗi cho ta. Ý ta là hai bước mới đúng," Odoro thản nhiên nói kèm theo một cái nhún vai đầy vẻ cố ý. Rõ ràng là hắn cố tình làm vậy.
Chết tiệt, cầu cho ngươi bị một con quái vật Nue cắn đứt họng đi cho rồi.
Seiji hằn học lườm hắn một cái. Thế rồi, khi nhận ra trong túi giấy là một chiếc lon, anh chớp mắt ngạc nhiên. Nhãn mác viết bằng tiếng Anh, nhưng anh vẫn kịp nhận ra dòng chữ: "Sardines in oil" (Cá mồi ngâm dầu).
Thuốc độc chăng? Anh thầm nghĩ, cảm thấy mình chẳng khác nào mấy chú voi đáng thương trong câu chuyện "Những chú voi trung thành" của Tsuchiya. Anh cứ đứng nhìn chằm chằm vào chiếc lon một lúc lâu.
"Nếu ta có ý định giết ngươi, ta sẽ bẻ cổ ngươi cho nhanh." Odoro ném cho anh một cái nhìn đầy vẻ chán ghét dưới đôi mắt lim dim.
Cũng đúng, Seiji nghĩ bụng. Quyết định nhận lấy "ân huệ" này một cách biết ơn, anh nhặt chiếc lon lên.
"...Tại sao điều đó lại thuyết phục được ngươi nhỉ?"
Mặc kệ lời càu nhàu của Odoro, Seiji cố mở nắp lon, nhưng có vẻ đây là loại cần phải có đồ khui.
"Ờm, đồ khui lon...?" anh rụt rè hỏi.
Đáp lại chỉ là một luồng sát khí nồng nặc.
Được rồi.
Có lẽ anh nên bắt chước mấy con rái cá, đập nó vào thứ gì đó cho vỡ ra. Anh đang nhìn quanh tìm một vật nhọn thì...
Hửm?
Anh nhận ra có một chiếc ghế bành bọc da đặt cạnh cửa sổ.
Đó hẳn là một món đồ cổ. Những chiếc chân ghế kiểu cabriole thanh mảnh như gót giày cao gót; ngược lại, phần tay vịn mang một vẻ uy nghi hoàng tộc, lớp da bọc bóng loáng như gỗ được đánh xi kỹ lưỡng.
Nếu Shiroshi ở đây, chắc chắn cậu ấy sẽ cuộn mình trên đó và đọc sách hàng giờ liền.
Ờm, có khi nếu mình kẹp cái lon này dưới chân ghế, mình có thể đục một lỗ trên nắp, Seiji nảy ra một ý tưởng cực kỳ nực cười.
"Đừng có chạm vào nó," Odoro gắt lên, bắn một cái nhìn sắc lẹm về phía anh. Giọng hắn lạnh như băng. Có vẻ hắn rất trân quý chiếc ghế đó.
Thế nhưng...
...Hửm?
Odoro liếc nhanh qua món đồ nội thất ấy rồi vội vã tránh đi, như thể đang chạy trốn khỏi nó. Biểu cảm của hắn rất lạ; có chút buồn bã, hoặc có lẽ là bực bội. Cứ như thể hắn đang phải đấu tranh với nỗi đau từ một vết thương cũ.
Có lẽ nào... Seiji suy đoán.
Chiếc ghế đó cũng chứa đựng ký ức về một người chủ cũ sao? Nó đã từng là chỗ ngồi quen thuộc của ai đó, giống như chiếc ghế Queen Anne của Shiroshi sao?
Vậy là, kể từ khi người đó ra đi, anh ta...
Phải chăng hắn không thể chạm vào hay thậm chí là nhìn thẳng vào nó, mà chỉ lặng lẽ giữ nó bên mình như một dấu vết của người đã từng hiện diện, và như một bằng chứng cho sự biến mất của họ?
Nhưng có gì đó hơi kỳ lạ về chiếc ghế này. Seiji nghiêng đầu thắc mắc.
Anh vừa phát hiện ra một điều rất bất thường. Bình thường thì nó chẳng có gì lạ, nhưng nếu chiếc ghế này quan trọng với Odoro như vẻ bề ngoài...
"...Hửm?"
Đột nhiên nghe thấy tiếng máy móc từ tầng dưới, Seiji nuốt nước bọt. Thang máy đang chuyển động. Có người đang đi lên.
Khách hàng sao?
Tuy nhiên, nhìn vẻ mặt nghi hoặc của Odoro, đây chắc hẳn là một vị khách không mời mà đến.
Tiếng "đing" vang lên khi thang máy chạm tầng, và rồi...
"Xin chào? Cho tôi hỏi... Ôi chao. Xin lỗi vì đã tự ý xông vào. Tôi đã tìm kỹ rồi nhưng không thấy chuông đâu cả."
Vị khách là một cụ bà khoảng chừng bảy mươi tuổi, tay vắt một chiếc áo mưa đã gấp gọn. Bà mặc một chiếc áo cardigan dày dặn theo phong cách thanh tao, mái tóc trắng thưa được búi gọn gàng phía sau. Bà đang đẩy một chiếc xe tập đi tích hợp ghế ngồi. Lưng bà hơi còng, nhưng gò má đầy đặn lại hồng hào khỏe mạnh, đôi mắt tròn xoe cùng những nếp nhăn nơi khóe mắt toát lên vẻ đáng yêu hệt như một chú chó Shiba.
Bà gấp áo mưa cho vào túi nhỏ, rồi cất vào chiếc túi họa tiết hoa gắn trên xe tập đi. Có vài tờ rơi siêu thị ló ra từ túi bên hông.
Đôi mắt nằm giữa những nếp nhăn tò mò nhìn quanh phòng, rồi dừng lại ở Seiji đang ngồi bệt dưới sàn. "C-có chuyện gì vậy cháu? Cháu thấy không khỏe à?"
"Dạ không, ờm, tại cháu chưa ăn gì suốt ba ngày rồi nên..."
"Trời đất, thật là kinh khủng!"
Ngay khi nghe thấy câu chuyện thảm hại của Seiji, bà bắt đầu lục tìm trong chiếc túi hoa — có vẻ là một chiếc túi giữ nhiệt. Rồi bà lấy ra một hộp đựng nhỏ. "Bà e là chỉ còn chút đồ ăn thừa từ bữa trưa, nhưng mà..."
Khi anh mở nắp, hóa ra đó là Inari sushi. Hai miếng đậu phụ rán căng mọng, ngọt thơm nằm gọn gàng bên trong.
"Ch-cháu cảm ơn bà nhiều lắm ạ!"
Seiji chắp tay vái lạy như đang thờ phụng, rồi biết ơn thưởng thức món ăn. Khi anh nhai, vị cơm trộn giấm và độ ngọt của đậu phụ rán dần dần thấm vào dạ dày. Với một cái bụng rỗng, không gì có thể ngon hơn thế này.
...Hửm?
Anh chớp mắt. Anh vừa ngửi thấy một mùi hương lạ lùng, thoang thoảng.
Có thứ gì đó đang thối rữa sao?
Trong tích tắc, anh ngỡ như mình ngửi thấy mùi thịt sống bị hỏng — hay là không phải nhỉ?
Trước khi anh kịp xác định mùi hương đó, nó đã tan biến. Trong khi Seiji vẫn còn đang thắc mắc...
"Nhân tiện đây." Odoro, dường như đã hết kiên nhẫn, cắt ngang như thể đang đâm một cây băng vào người khác. "Bà tự ý vào văn phòng người khác và bắt đầu cho một con chó hoang ăn, nhưng bà chính xác là ai? Từ đâu đến?"
Thoạt nhìn, mặt hắn vô cảm như một chiếc mặt nạ, nhưng nhìn kỹ hơn, một sợi gân đang giật giật trên thái dương. Hắn đang ở rất gần giới hạn của sự bùng nổ.
Seiji rùng mình, nhưng cụ bà lại cúi chào một cách thản nhiên đến ngạc nhiên. "Ồ, tôi xin lỗi. Tôi vẫn chưa tự giới thiệu. Tên tôi là Suzu Torikai. Người ta bảo tôi rằng nếu đến đây tôi có thể tham vấn thám tử."
"Tôi không biết ai đã nói với bà điều đó, nhưng văn phòng này chỉ hoạt động theo hệ thống giới thiệu. Nếu bà không có hẹn trước, tôi e là mình không thể gặp—"
"Ồ, đúng rồi. Cậu ấy đã đưa cho tôi tấm danh thiếp này."
Tấm danh thiếp mà bà Suzu đưa ra trông rất quen thuộc, với dòng chữ "Văn phòng Thám tử Rindou" in nhũ vàng trên nền đen. Tuy nhiên, cái tên in bên dưới những dòng chữ đó lại là...
"...Ibara?" Tiếng lẩm bẩm sững sờ của Odoro phát ra gần như vô thức.
Ibara Rindou.
Nếu Seiji nhớ không lầm, đó là người anh em sinh đôi của Odoro, vị thám tử thứ hai đã cùng hắn lập nên văn phòng này.
Chỉ là... Mình tưởng anh ta đã chết rồi chứ.
Theo những gì Seiji nghe được, đã có một cuộc chiến thừa kế tàn khốc, và Odoro là người duy nhất trong số mười ba anh em còn sống sót.
Hơn nữa, chuyện đó đã xảy ra từ hơn năm năm trước, trước cả khi cuộc thi đưa những kẻ tội đồ xuống Địa ngục bắt đầu.
"Ai đã đưa cái này cho bà? Từ bao nhiêu năm trước rồi?" Giọng Odoro phẳng lặng một cách bất thường. Biểu cảm của hắn chuyển từ kinh ngạc sang trống rỗng hoàn toàn.
"Là khi nào nhỉ? Hôm qua chăng?" cụ bà nói. "...Nhưng cảm giác như cũng đã được vài năm rồi. Tôi nhớ là một chàng trai trẻ đã đưa nó cho mình, nhưng tôi không thể nhớ cậu ấy là ai... Tôi xin lỗi." Suzu khẽ co người lại, vẻ mặt đầy hối lỗi. "Chắc là do tuổi tác rồi. Dạo này tôi càng lúc càng chẳng biết gì cả."
Hừm. Có vẻ bà cụ bị mắc chứng hay quên trầm trọng.
"...Tôi hiểu rồi," Odoro lẩm bẩm. Hắn đưa tay lên cằm suy nghĩ một lúc nhưng dường như không đi đến đâu. "Trước hết, bà có thể cho tôi biết lý do bà đến đây không? Mời bà ngồi." Hắn ra hiệu về phía bộ ghế tiếp khách.
Sau khi cố gắng ngồi xuống một trong những chiếc ghế sofa da đắt tiền, Suzu tò mò nhìn quanh. "Văn phòng đẹp quá. Cậu tự trang trí lấy sao?"
"Anh trai tôi vốn rất kỹ tính trong những chuyện này. Tôi thậm chí còn chẳng động vào bản vẽ... Bà có muốn dùng chút cà phê không?" Đáp lại với sự thẳng thắn bất ngờ, Odoro bước sang khu vực làm việc. Nơi đó được trang bị một chiếc tủ bệ, trên quầy đặt một chiếc máy xay cà phê quay tay và những lọ đựng hạt cà phê.
Chẳng bao lâu sau, Odoro đưa cho bà một tách cà phê pha từ hạt mới xay, kèm theo vài viên đường bên cạnh.
"Chà, cậu thật tốt quá." Nhận lấy tách cà phê, bà Suzu thổi nhẹ rồi nhấp một ngụm, thưởng thức hương vị của nó. "Ồ, ngon quá. Cậu vừa cho tôi thêm một ngày để sống đấy."
Có vẻ như bà cụ nói điều đó theo nghĩa đen.
...Lẽ dĩ nhiên, Seiji chẳng được mời lấy một ly nước lọc. Hay thậm chí là một chiếc ghế.
Cầm một tách cho riêng mình, Odoro ngồi xuống chiếc sofa đối diện.
"Để xem nào. Tôi nên bắt đầu từ đâu đây nhỉ...?" Sau làn khói nghi ngút bốc lên từ tách cà phê, bà Suzu bắt đầu nói, ngập ngừng, rồi lại thử lại lần nữa. "Là về con chó, cậu biết đấy. Con bé cứ liên tục biến mất."
"Một con chó sao?"
Này. Sao anh lại nhìn tôi?
"Con chó tôi đang chăm sóc đã chạy mất vài lần rồi. Chuyện đó xảy ra vào ban đêm, khi tôi đang ngủ."
"Vậy là một con chó đặc biệt ngu ngốc rồi."
Tôi đã bảo rồi, đừng có nhìn tôi nữa.
"Nói đi cũng phải nói lại," Odoro tiếp tục, "nếu lần nào nó cũng quay về, thì có lẽ nó chỉ đang làm phiền ai đó thôi. Dù tôi đồ rằng đó là một sự phiền toái khủng khiếp đối với họ."
...Được thôi, cứ nói gì anh muốn đi.
"Không, con bé không quay về... Mỗi lần con bé biến mất, tôi lại đi tìm khắp nơi, và cuối cùng tôi cũng tìm thấy nó. Giờ nó lại đang mất tích; tính ra đã đi được nửa tháng rồi."
"Nửa tháng? Đó là một khoảng thời gian khá dài đấy."
"Đúng vậy, nhưng trước đây cũng có lần cả tháng trời tôi mới tình cờ tìm thấy nó."
"Bà đã liên hệ với trại cứu trợ động vật nào chưa?"
"À, họ dường như chẳng bao giờ coi lời tôi nói là nghiêm túc cả."
Theo lời Suzu, con chó thuộc giống nhỏ, tên là "Chi". Mỗi ngày bà cho Chi ăn hai bữa sáng và tối. Chi là chó nuôi trong nhà, và dù mỗi ngày bà đều để nó ra vườn chơi một lần, nhưng chân và lưng bà yếu nên không thể dắt nó đi dạo được. Khi đưa nó đến bác sĩ thú y địa phương để kiểm tra sức khỏe, bà thường đặt con chó lên xe tập đi rồi đẩy đi.
Hừm. Vậy là con chó chạy mất vì nó không hài lòng với hoàn cảnh sao?
"Bà nói nó chạy mất vào ban đêm, lúc bà đang ngủ. Bà có biết chuyện đó diễn ra như thế nào không?"
"Hoàn toàn không. Tôi luôn đảm bảo các cửa sổ và cửa chính đã được đóng và khóa cẩn thận mỗi đêm."
"Có bao giờ bà bị đánh thức bởi tiếng động nào không?"
"À, cậu thấy đấy... Tôi đã uống thuốc ngủ khoảng hai năm nay rồi."
Mọi chuyện bắt đầu từ khi bà cụ hàng xóm — một người phụ nữ độc thân khác và là bạn thân nhiều năm của Suzu — chuyển vào viện dưỡng lão.
Suzu trải qua những ngày tháng không có ai để trò chuyện, việc tham gia các lớp học sở thích thì lại quá phiền phức. Bà ngày càng thu mình lại, và đến một lúc nào đó, bà không còn ngủ được vào ban đêm nữa.
Nghĩ rằng "Chuyện này không thể tiếp tục được", bà đã trao đổi với bác sĩ và được kê đơn thuốc ngủ có tác dụng kéo dài. Nhờ đó bà có thể ngủ say đến tận sáng, nhưng...
"Dù rất biết ơn chúng, nhưng tôi nghĩ loại thuốc này có tác dụng hơi quá mức."
Có vẻ như phải có tiếng động rất lớn mới có thể đánh thức bà. Suzu rất sợ rằng nếu có hỏa hoạn hay động đất xảy ra, bà sẽ chết ngay trong khi ngủ.
"Có lần tôi đã bỏ thuốc và cố thức canh con chó cả đêm. Nhưng chuyện đó không tốt cho tim mạch, nên bác sĩ bảo tôi phải dừng lại... Kết quả là, tôi vẫn không biết làm cách nào mà chúng thoát ra được."
Hả? Seiji chớp mắt. "Chúng"...?
Bà cụ nói nhầm sao? Từ những gì bà Suzu kể, có vẻ như bà chỉ có một con chó thôi mà.
"Bà đã thử nhốt con chó vào lồng trước khi đi ngủ chưa?"
"À, tôi đã thử rồi, nhưng con bé vẫn chạy mất. Dù tôi có mang nó về bao nhiêu lần đi nữa, sáng hôm sau nó cũng biến mất."
"...Bà uống thuốc trước khi khóa cửa đi ngủ à?"
"Không. Tôi có một thói quen cố định: Tôi thay đồ ngủ và đánh răng trước, sau đó đặt báo thức, rồi đi một vòng kiểm tra tất cả các cửa sổ và cửa chính. Sau đó, khi mọi thứ đã sẵn sàng, tôi mới uống thuốc."
Lông mày Odoro giật giật. Hắn trầm ngâm suy nghĩ một lúc. "Bà có dùng đồng hồ báo thức cơ không? Loại có cái núm vặn ở mặt sau để chỉnh kim báo thức đến giờ bà muốn thức dậy ấy?"
"Đúng, đúng rồi, chính là loại đó."
"Và bà thức dậy lúc mấy giờ?"
"Bảy giờ sáng."
"Ngày nào cũng đều đặn như vậy sao?"
"Vâng. Tôi nghĩ mình nên giữ thói quen sinh hoạt điều độ nhất có thể."
"Hừm." Odoro đưa tay lên cằm. "Bà có thường xuyên vắng nhà lâu vào ban ngày không?"
"Tôi thường ra công viên địa phương mỗi ngày sau bữa trưa. Bác sĩ bảo tôi nên tắm nắng nhiều nhất có thể. Nhưng dạo gần đây tôi toàn đi loanh quanh tìm Chi thôi."
"Kể cả những ngày mưa sao?"
"Không. Nếu đi bộ lâu tôi cần phải dùng xe tập đi, cậu biết đấy. Tôi không thể vừa che ô vừa đẩy xe được, nên tôi thường mặc áo mưa và đến thư viện địa phương."
"Và khi nào thì bà về nhà?"
"Luôn là sau bảy giờ tối một chút, tôi nghĩ vậy. Tiếng chuông ở công viên vang lên lúc sáu giờ. Tôi rời công viên lúc đó và ghé qua siêu thị trên đường về nhà, nên thường là khoảng thời gian đó."
"...Tôi hiểu rồi."
Các câu hỏi cuối cùng cũng kết thúc.
Thế rồi Seiji, người nãy giờ vẫn im lặng lắng nghe, nhận ra một điểm quan trọng vẫn chưa được đề cập. "Nhân tiện, Chi thuộc giống chó gì ạ?"
"Để xem nào. Bác sĩ thú y nói con bé có lẽ là giống lai Chihuahua. Lông nó màu nâu, và phần chân dưới thì trắng tinh như thể đang đi tất vậy."
Hừm. Nghe có vẻ rất đáng yêu.
"Rồi nó có cái mũi nhỏ hếch hếch nữa. Mặt nó nhăn nheo như một quả mận khô, còn cái đuôi thì cuộn tròn lại."
...Hay là không được đáng yêu cho lắm?
"T-tai con bé như thế nào ạ?"
"Bà nghĩ là tai nó cụp xuống... Ơ không phải. Tai nó dựng đứng, và có hình dạng như con bướm ấy."
Rốt cuộc đây là loại chó gì vậy?
"Ờm, bộ lông của nó như thế nào ạ?"
"Nó xoăn tít, giống như gấu bông ấy. Ờ, cháu biết đấy; loại của nước ngoài hay bán ở các trung tâm thương mại ấy."
"Ý bà là gấu Teddy ạ?"
"Đúng rồi, giống như thế."
...Vô dụng thôi. Hình ảnh về con chó này trong đầu anh đang trở thành một con quái vật sau mỗi giây trôi qua.
"Chân con bé dài bao nhiêu ạ?"
"Rất ngắn. Nhưng thân nó lại dài, và nó có cái mõm nhọn giống như con cáo."
Khoan đã nào.
"Chẳng phải bà vừa nói mũi nó hếch (tịt) sao?"
"...Trời đất." Suzu chớp mắt. Bà im lặng một hồi lâu, như thể đang suy nghĩ cực kỳ lung lắm. "Bà xin lỗi. Dạo này có quá nhiều thứ bà không biết...," bà lẩm bẩm, vẻ mặt đầy bối rối và hối lỗi. Sau đó bà im lặng như một con sò đóng chặt vỏ.
"Tại sao bà lại muốn mang con chó về nhà đến thế?" Odoro hỏi.
Gò má Suzu giật giật. Sự bất an hiện rõ trong đôi mắt to và tối của bà. "...Tại sao lại thế nhỉ?" bà lẩm bẩm vào tách cà phê. Ánh mắt bà trở nên xa xăm một cách lạ thường. "Ồ, đúng rồi." Bà gật đầu, một cách khá phẳng lặng. "Có một cậu bé đang cô đơn." Biểu cảm của bà mơ hồ, như thể đang nửa tỉnh nửa mê. "Cảm giác cô đơn đau đớn lắm, cậu biết mà."
Những gì bà nói dường như không hề ăn khớp với nhau. Đôi mắt bà trở nên mất tiêu cự, và bà thậm chí không còn nhìn thấy Seiji nữa. Bà đang nhìn về một hướng hoàn toàn khác.
"Cậu ấy đã để con bé lại cho tôi, cậu thấy đấy. Tôi cảm thấy mình phải chăm sóc nó thật tốt. Cậu ấy đang trông cậy vào tôi. Tôi cảm thấy mình chưa được phép chết, vì lợi ích của họ. Vậy mà, vậy mà, con bé lại biến mất. Nên tôi đã nghĩ: 'Mình phải nhanh chóng tìm thấy nó'."
Đôi bàn tay nhăn nheo của bà siết chặt đến mức khiến người ta cảm thấy đau lòng khi nhìn vào. Các khớp ngón tay đã trắng bệch ra. Seiji nhận ra rằng cà phê trong chiếc tách đã vơi một nửa đang sánh lên dữ dội đến mức suýt chút nữa là tràn ra ngoài.
Bà ấy đang run.
"Ờm, bà Suzu..."
Không thể cứ ngồi yên nhìn, Seiji vừa định gọi bà thì— Odoro búng tay một cái thật mạnh.
Chớp mắt như thể vừa bị đánh thức, Suzu nhìn dáo dác xung quanh. "Trời đất. Tôi đang ở đâu thế này?" Bà trông giống như một đứa trẻ bị lạc. Khuôn mặt lộ rõ vẻ bối rối và bất an, bà tỏ ra chán ghét và thất vọng về chính mình. Bà dường như đã hoàn toàn quên mất lý do mình có mặt ở đây. "Ôi trời, thật tệ quá. Không hiểu sao tôi lại làm phiền cậu... Trời ơi, cậu còn mời tôi uống cà phê nữa. Tôi xin lỗi. Hy vọng tôi đã không gây ra phiền hà gì."
"Không sao đâu. Bà đến để nói chuyện với tôi về con chó của bà, và tôi đã tiếp nhận yêu cầu đó." Giọng Odoro hoàn toàn điềm tĩnh. Hắn dường như nói những lời đó cốt để trấn an bà.
Suzu nhìn hắn chằm chằm. Thế rồi, chẳng báo trước, khuôn mặt bà mếu máo. "Ồ, tôi mừng quá. Tôi đã rất muốn nói chuyện với ai đó về chuyện này. Tôi chỉ không biết phải làm gì với chúng nữa. Cảm ơn cậu rất nhiều vì đã giúp đỡ." Bà cúi đầu thật sâu.
Tuy nhiên, khi bà ngẩng đầu lên, biểu cảm lại thay đổi một lần nữa. Đôi mắt bà trở nên mơ màng. Bà mỉm cười rạng rỡ với Odoro, như thể họ vừa mới trò chuyện phiếm xong. "Tôi nên đi thôi. Tôi không chắc cậu là ai, nhưng cậu đã rất tốt với bà già này, tôi rất cảm ơn."
Từ ngữ lướt qua tâm trí Seiji khiến anh cảm thấy lạnh sống lưng.
Sa sút trí tuệ.
"Bà sẽ về thẳng nhà chứ?" Odoro hỏi.
Suzu nghiêng đầu như một chú chim nhỏ. "Để xem nào... Tôi nghĩ mình sẽ ghé qua thư viện, sau đó mua thứ gì đó để ăn từ quầy thực phẩm chín ở siêu thị. Theo dự báo thời tiết, mưa có vẻ sẽ nặng hạt hơn đấy."
"...Tôi khuyên bà hôm nay nên trì hoãn việc về nhà lâu nhất có thể."
"Ồ? Tại sao vậy?"
"Vì điều đó sẽ giúp việc tìm thấy con chó dễ dàng hơn."
Một câu nói đầy ẩn ý.
Giống như Seiji, bà Suzu trông cũng đầy nghi hoặc. Gượng đứng dậy khỏi ghế sofa, bà cúi đầu chào Odoro thật sâu. "Cậu cũng bảo trọng nhé." Khi bà cố gắng lên thang máy, bánh xe tập đi bị kẹt vào khe hở, khiến bà khựng lại.
Odoro lập tức đứng dậy. "Để tôi giúp bà."
"Trời ơi, cậu thật tử tế."
Trong một hành động tử tế đầy bất ngờ, Odoro nhấc bổng một đầu của chiếc xe tập đi bằng một tay, dễ dàng đẩy nó vào trong thang máy. Sau đó hắn giúp bà Suzu đang đầy lòng cảm kích và bối rối vào trong, và chiếc thang máy bắt đầu đi xuống.
...Mình không ngờ tới chuyện này. Seiji vốn cứ ngỡ gã này là hiện thân của bạo lực và sự tàn độc, một kẻ có nhân cách hoàn toàn băng hoại. Nhưng có vẻ hắn cũng có một mặt hiệp sĩ đầy bất ngờ.
Cảm thấy ấn tượng, Seiji nhanh chóng định ngồi xuống chiếc sofa trống, nhưng...
"Oái!"
Anh chúi người về phía trước và ngã nhào. Odoro đã đưa chân ra ngáng đường anh.
"Thứ lỗi cho ta," Odoro nói mà không thèm nhìn anh lấy một cái. Trong tích tắc, hắn khẽ nhíu mày, như thể lo lắng vì đã làm bẩn mũi giày. Sau đó hắn thản nhiên chiếm lại chỗ ngồi trên sofa. "...Chuyện này thật kỳ lạ."
Cầu cho ngươi bị hói đầu ngay lập tức đi, Seiji thầm rủa hắn. Từ bỏ ý định ngồi sofa, anh ngồi bệt xuống sàn, ôm lấy đầu gối. Sau đó anh nghĩ về cuộc đối thoại vừa nghe được. "Đó có phải là cái mà người ta gọi là 'hội chứng hoàng hôn' không? Chúng ta nên liên hệ với ai đó thân thiết với bà cụ, thay vì đi tìm con chó của bà ấy. Có thể là nhân viên phúc lợi địa phương, hoặc ít nhất là ai đó có thể làm bạn với bà..."
Nếu con chó của bà cứ chạy mất, có lẽ chỉ là do bà quên khóa cửa thôi. Chuyện này nghe giống việc của một phòng khám hay hội phụ nữ khu phố hơn là của một thám tử.
Tuy nhiên, Odoro ném cho anh một cái nhìn như muốn nói: Ai mà tin được con chó này lại biết nói cơ chứ? "Ta hiểu rồi. Hóa ra đây là những gì xảy ra khi những kẻ ngu ngốc phát biểu."
Hắn ta nghĩ mình là ai chứ? Hoàng tử chắc? Mà nghĩ lại thì, đúng là hắn ta là hoàng tử thật...
"Hừm," Odoro lẩm bẩm. "Có tất cả năm giống chó." Hắn gõ ngón trỏ lên tay vịn sofa. "Những đặc điểm về chó mà Suzu đưa ra tương ứng với một con Chihuahua, một con Pug, một con Papillon, một con Toy Poodle và một con Dachshund... điểm chung duy nhất là chúng đều thuộc giống chó nhỏ."
Hả? Hắn đang nói cái quái gì thế? Seiji mù tịt.
Ờm, vậy là về cơ bản, hắn đã nhận ra điều gì đó từ lời kể của bà Suzu sao?
Khi ở cùng Shiroshi, anh thường hay quên, nhưng Odoro mới là người được công chúng coi là một thám tử đại tài. Seiji luôn có ý định gắn mác "hạng hai" cho hắn, nhưng có lẽ gã này thực sự có năng lực.
Đứng dậy, Odoro đi về phía khu vực làm việc ở phía sau căn hộ Loft. Mở một trong những ngăn kéo bị khóa của bàn làm việc, hắn lấy thứ gì đó ra và nhét vào túi áo khoác. Seiji trông thấy nó giống như một khẩu súng lục ổ quay — nhưng chắc chắn là anh nhìn nhầm thôi.
Sau đó Odoro lấy chiếc mũ phớt trên mặt bàn, đội lên đầu, và cầm lấy cây gậy ba toong đang dựa vào bàn. "Chúng ta đi ra ngoài."
"Hả?"
"Vì Bộ Diêm Ma đã gửi thông báo đó, ta cho là mình cần phải mang ngươi theo."
Với một tiếng thở dài, hắn sải bước đi, tiếng giày gõ lộc cộc trên sàn. Hắn đi rất nhanh.
Gì đây, thi đi bộ nhanh à?! Seiji thậm chí còn không có thời gian để phàn nàn; vội vàng chạy theo Odoro, anh lách vào thang máy vào giây cuối cùng. Một tiếng "đing" vang lên, và nó đưa họ thẳng xuống tầng một.
Lúc đó là khoảng bốn giờ rưỡi. Họ đã ở rất gần giờ hoàng đạo của yêu ma, nhưng bầu trời vẫn xám xịt và mưa phùn, khiến ranh giới giữa ban ngày và hoàng hôn trở nên khó phân định.
"Giờ thì. Chúng ta sẽ đến thăm nơi ở của khách hàng."
"Hả? Nhưng chúng ta đâu có biết địa chỉ hay bất cứ thứ gì của bà ấy."
Tay Odoro đưa lên một cách mượt mà. Hắn đang cầm một tấm bưu thiếp; một tờ quảng cáo gửi trực tiếp từ một tiệm giặt là. Tên người nhận là — Suzu Torikai.
Hắn ăn trộm cái đó sao?!
Chắc hẳn chuyện đó đã xảy ra khi bà Suzu đang cố lên thang máy. Khi hắn nhấc chiếc xe tập đi của bà lên, hắn có lẽ đã cuỗm mất thứ này từ túi bên hông.
Trước khi Seiji kịp vặn hỏi, Odoro đã vẫy một chiếc taxi và họ hướng đến địa chỉ ghi trên bưu thiếp. Hóa ra đó là một ngôi nhà trong một khu dân cư bình dân đông đúc với những ngôi nhà tương tự nhau.
Đó là một nơi nhỏ bé: một ngôi nhà gỗ một tầng xập xệ. Khu vườn được bao quanh bởi một bức tường gạch xi măng kiểu cũ và trồng một vài cái cây trơ trụi lá mùa đông.
Tấm biển trên trụ cổng ghi chữ TORIKAI. Đây chính là nhà của bà Suzu.
Không chút do dự, Odoro nhấn chuông cửa. Không có phản hồi: Bà ấy vẫn còn ở ngoài. Giờ sao đây? Seiji nghĩ, quan sát tình hình diễn ra như thể nó chẳng liên quan gì đến mình.
"...Chúng ta sẽ thử lối vào phía sau." Odoro sải bước qua cổng; Seiji rụt rè đi theo sau. Họ đi vòng quanh ngôi nhà, băng qua một cái giá treo đồ giặt, và phát hiện ra cánh cửa sau nằm cạnh dàn nóng máy điều hòa bên ngoài.
Odoro thử vặn nắm đấm cửa. Dĩ nhiên là nó đã khóa. Giờ sao đây? Seiji lại đang thắc mắc, thì—
Rầm!
—Odoro đá tung cánh cửa. Có lẽ nó vốn đã được lắp đặt không chắc chắn ngay từ đầu; bản lề bay ra ngoài.
"A-anh đang làm cái quái gì thế?!" Seiji vừa định lên tiếng phản đối thì một mùi hôi thối nồng nặc xộc ra từ bên trong khiến anh phải ngậm miệng và bịt mũi lại.
Khiếp quá, cái mùi thối gì thế này?!
Nó giống như mùi của thứ gì đó đang thối rữa.
Odoro hít một hơi thật mạnh. Sau đó với một khuôn mặt vẫn phẳng lặng, vô cảm, hắn nói: "Phía bên kia của ngôi nhà... khả năng cao là ở trong bếp."
Anh là chó đấy à? Seiji vặc lại trong đầu. Mặc kệ anh, Odoro bước thẳng vào trong mà không thèm cởi giày, cứ như thể đó là điều hiển nhiên. Đây rõ ràng là hành vi xâm nhập gia cư bất hợp pháp. Nếu ai đó báo cảnh sát, cả hai sẽ bị bắt tại trận mà chẳng cần hỏi han gì.
Chết tiệt! Chuyện gì đến thì đến. Cởi phăng đôi giày một cách tuyệt vọng, Seiji lén lút đi theo Odoro. Cánh cửa mở ra một hành lang hẹp. Có một phòng tắm nhỏ ở bên trái, và cuối hành lang dường như là nhà bếp.
Seiji lần mò một cách cẩn thận dọc theo bức tường, tìm công tắc đèn.
"Ồ, đây rồi."
Khi anh bật công tắc, đèn sáng lên, để lộ một căn bếp đơn giản.
Nồi và chảo rán treo trên bức tường lát gạch. Thoạt nhìn, mọi thứ dường như đã được sử dụng nhiều, bảo quản cẩn thận và ngăn nắp một cách dễ chịu, ngoại trừ...
"...Có vẻ như có gì đó thực sự hơi bất thường ở đây, phải không?"
Kính cửa sổ bám đầy bụi, và một chậu cây trầu bà chết héo đặt phía trước. Khi Seiji nhìn kỹ hơn, bồn rửa bát mờ đục vì cặn vôi, và có những hộp đựng đồ ăn sẵn xếp chồng lên nhau bên trong. Một ngọn núi nhỏ những túi rác nhựa chất đống sát một bức tường; bà Suzu có lẽ đã quên mang chúng ra ngoài vào ngày đổ rác.
Và hơn bất cứ điều gì khác, chính là cái mùi đó.
Có lẽ bà ấy đã để đồ trong tủ lạnh thối rữa vì chứng sa sút trí tuệ chăng?
Ngay khi ý nghĩ đó xẹt qua đầu Seiji, mắt anh tìm đến chiếc tủ lạnh. Không, mình thực sự không thể mở cái đó đâu, anh nghĩ, quyết định giả vờ như không thấy nó. Nhưng khi anh đang lách mình né tránh...
"Đừng có chạy." Odoro lườm anh đầy đe dọa, mũi hắn nhăn lại như một con chó điên.
Trời ạ.
Thế nhưng...
"Hả?"
Anh cứ ngỡ chiếc tủ lạnh sẽ chất đầy những thứ thịt cá thối rữa, chảy nước, nhưng nó lại trống rỗng. Bà ấy hẳn đã mua hầu hết các bữa ăn từ quầy thực phẩm chín.
"Cái gì? Nhưng vậy thì cái mùi đó bốc ra từ đâu chứ?"
Ngay lúc đó, một hình hài nhỏ bé màu đen lướt qua chân anh, khiến Seiji giật nảy mình. Gián sao?! anh nghĩ, nhưng không phải. Đó là một loài bọ cánh cứng khá dẹt; phần đó thì giống, nhưng con này có râu ngắn hơn và cơ thể hình hộp.
"Có vẻ là một con bọ cánh cứng ăn xác chết (carrion beetle)," Odoro lẩm bẩm. "Còn được gọi là bọ chôn xác (burying beetle). Chúng là những loài ăn xác thối khét tiếng, chuyên ăn xác động vật."
C-cái mô tả nghe đáng điềm gở quá vậy? Seiji rùng mình.
Con bọ cánh cứng bò ngang qua sàn gỗ cho đến khi tới bồn rửa bát, và rồi...
"Ồ? Cái gì đây?"
Có một bộ cửa đôi hình vuông nhỏ đặt dưới sàn nhà. Rõ ràng, nhà bếp có một không gian lưu trữ dưới sàn (hầm thấp).
Con bọ cánh cứng lập tức lách qua khe hở giữa hai cánh cửa. Nó hành động như thể đã tìm thấy bữa ăn của mình. Đúng vậy, loài bọ này có thể lần theo mùi của cái chết để tìm đến nguồn gốc.
"...Ta hiểu rồi," Odoro nói. "Ở đây sao?"
"Không, ờm, đợi một chút, tôi vẫn chưa sẵn sàng cho— Ááááááá!"
Ngay khi Odoro kéo cánh cửa mở ra, một đám mây những đốm đen bùng nổ trong phòng.
Ruồi.
Ngay lập tức, mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi Seiji.
Anh vừa há miệng định hét lên thì lũ ruồi dường như đang tranh nhau lao vào trong đó. Anh quờ quạng tay loạn xạ một cách điên cuồng.
Thứ hiện ra từ bóng tối nồng nặc hôi thối kia là những xác chó đang thối rữa.
Đôi mắt dường như đã tan biến hoàn toàn; những con dòi trắng bò ra bò vào trong những hốc mắt trống rỗng. Rồi đến lũ bọ cánh cứng ăn xác chết đen kịt lúc nhúc... Không gian đó đã trở thành một hang ổ của côn trùng.
Mùi thối dường như muốn vặn đứt mũi Seiji, anh rên rỉ. Anh áp tay lên miệng, khó khăn lắm mới nuốt lại được thứ đang chực trào lên. Cái quái gì đang diễn ra ở đây vậy? Lắc cái đầu đang vô cùng bối rối của mình, anh vô thức lùi lại.
"Pug, Papillon, Toy Poodle, Dachshund... Hừm. Thiếu một con," Odoro nói. Hắn đang nhìn xuống cái hố dưới sàn nhà, khuôn mặt nhìn nghiêng không thể đoán định được điều gì. "Nói ngắn gọn, có tất cả năm con chó mà Suzu gọi là 'Chi'."
Seiji không hiểu những gì mình đang nghe. Đoán được điều đó qua biểu cảm của anh, Odoro hừ mũi, như thể cảm thấy chuyện này thật phiền phức. "Con có khuôn mặt nhăn nheo là giống Pug. Đôi tai hình bướm thuộc về giống Papillon, con có bộ lông xoăn là Toy Poodle, và con chân ngắn là Dachshund. Khi Suzu mô tả 'Chi' với chúng ta, bà ta đã trộn lẫn đặc điểm của tất cả những giống chó đó lại với nhau."
"Hả? Nhưng tại sao bà ấy lại làm thế...?"
"Con 'Chi' đầu tiên có lẽ là giống lai Chihuahua. Khi vật cưng của mình biến mất, Suzu đã rất đau buồn và đi tìm khắp nơi. Sau đó bà ta nảy ra ý nghĩ rằng một con chó nhỏ khác trông chẳng giống nó tí nào chính là 'Chi' và mang nó về nhà."
"Vậy thì những con chó này là...?"
"Hoặc là bị bỏ rơi, hoặc là đi lạc," Odoro nói. Giọng hắn thản nhiên, nhưng góc nghiêng khuôn mặt đượm vẻ u sầu khác lạ dường như đang lặng lẽ mặc niệm cho cái chết của những con chó tội nghiệp.
"Ai lại có thể làm một việc như..." Seiji đang định nói thì một khả năng kinh khủng chợt lóe lên trong đầu. "Không lẽ... không lẽ là bà Suzu?" Giọng anh run run đầy vẻ cầu khẩn.
Nếu chính Suzu là người đã giết những con chó bà mang về hết con này đến con khác, giấu xác chúng dưới sàn nhà rồi quên sạch mọi chuyện, thì sự tình thực sự quá đỗi bi thảm.
"Khả năng đó rất thấp. Theo lời Suzu, lũ chó luôn biến mất vào ban đêm, sau khi bà đã uống thuốc và ngủ say."
"N-nhưng làm sao bà ấy có thể không ngửi thấy mùi hôi thối này?"
"Khứu giác suy giảm là triệu chứng sớm của bệnh Alzheimer. Hơn nữa, mũi con người rất nhanh quen với mùi hôi. Việc bà ấy sinh hoạt hàng ngày mà không nhận ra cũng chẳng có gì lạ."
Nhưng nếu chứng sa sút trí tuệ khiến bà Suzu bị mộng du, và bà ấy đã giết lũ chó trong lúc ngủ thì sao...?
"Ngươi xem phim kinh dị quá nhiều rồi đấy."
"Nhưng ý tôi là, bà ấy sống một mình mà? Vậy thì ai đã làm việc này?"
"Ta tin rằng đó là lý do chúng ta có mặt ở đây." Nhún vai một cái, Odoro sải bước sang phòng kế bên. Seiji vội vàng đóng nắp hầm chứa đồ lại rồi lật đật chạy theo.
Sau tấm rèm hạt kiểu cổ là một căn phòng trải chiếu tatami rộng khoảng mười mét vuông. Đó là một phòng khách kiểu cũ điển hình, có cả tivi và một chiếc bàn trà thấp. Ở bức tường phía xa có một bộ cửa kính lùa dẫn ra hiên; một dải bóng tối sống động đến kỳ lạ lộ ra qua khe hở giữa những tấm rèm khép hờ. Tiếng mưa rơi mỗi lúc một lớn. Có vẻ như trời đã bắt đầu mưa tầm tã.
"Ờm... Ổn rồi đây."
Seiji giật sợi dây của chiếc đèn huỳnh quang trên trần, căn phòng bừng sáng.
Có một cánh cửa lùa ở bức tường bên trái từ hướng nhà bếp đi vào, cạnh đó là một chiếc tủ ngăn kéo truyền thống nhỏ. Odoro đứng trước cái tủ, nhìn đăm đăm xuống mặt tủ. Khi Seiji nhìn theo, anh thấy nó được phủ một lớp bụi mỏng.
...Hả?
Có một hình chữ nhật nhỏ sạch bóng giữa lớp bụi ấy. Cứ như thể đã có một vật gì đó đặt ở đó cho đến tận gần đây.
Anh đang định hỏi "Ờm, cái gì..." thì đột nhiên có tiếng động vang lên.
Rè-rè-rè-rè-rè.
Seiji giật bắn mình. Nhìn quanh, anh phát hiện ra một chiếc nệm ngồi bị gấp đôi lại nằm trong bóng tối dưới gầm bàn thấp. Tiếng báo thức nghẹt lại phát ra từ bên trong đó.
"Hả? Đừng nói với tôi là..."
Nhưng khi anh lôi vật đó ra, đúng như dự đoán, đó là một chiếc đồng hồ báo thức cơ. Kim báo thức đang chỉ vào vài phút trước sáu giờ.
Năm giờ năm mươi — chính là lúc này.
Chuyện này là sao?
Seiji nhớ rất rõ bà Suzu đã nói bà đặt báo thức lúc bảy giờ sáng mỗi tối. Điều đó có nghĩa là ai đó đã cố tình chỉnh lại giờ. Nhưng thật kỳ quái. Đáng lẽ lúc này không được có ai ở đây mới đúng.
Hửm?
Trong thoáng chốc, anh ngỡ như mình thấy Odoro nhếch mép cười nhạt, nhưng biểu cảm đó biến mất nhanh đến mức anh chưa kịp chớp mắt.
"Này. Đồ chó con (Underdog)."
Chết tiệt. Hắn nghĩ mình sẽ thưa khi bị gọi thế sao?
"...Gì?"
"Nếu thấy chán thì đi kiểm tra phía sau đi. Ta ra ngoài gọi điện thoại một lát." Lấy chiếc điện thoại nắp gập từ trong túi áo khoác, Odoro hất cằm về phía tấm rèm hạt thứ hai. Phía sau đó là một hành lang u tối.
Không đời nào. Nghỉ đi.
Seiji rất muốn dùng chính xác những lời đó để từ chối một cách lịch sự, nhưng anh quá sợ những gì sẽ xảy ra nếu mình làm vậy. Với một lời cầu nguyện chân thành từ tận đáy lòng — mong sao tên khốn này sau này lại bị quái vật Nue cắn cho một trận nữa — anh lững thững bước ra khỏi phòng khách. Tấm rèm hạt lách cách khi anh đi ngang qua. Phía bên trái hành lang có một cánh cửa lắp kính mờ.
Ờm, chắc là phòng vệ sinh hoặc phòng tắm.
Run rẩy nắm lấy tay nắm cửa, anh từ từ mở ra, hé mắt nhìn vào qua khe cửa.
Một cảm giác rợn người ập đến.
Là... ánh mắt sao? Anh cảm thấy như mình đang bị theo dõi. Đó chính là cái nhìn mà anh hay cảm thấy sau lưng một cách vô định khi đang tắm vào đêm muộn. Cuối cùng thì đó cũng chỉ là do anh tưởng tượng, nhưng...
Trước mắt cứ bật đèn lên đã.
Anh tuyệt vọng quờ quạng dọc theo bức tường rồi bật công tắc. Đèn huỳnh quang phía trên đầu lóe sáng.
"Á!"
Trước mặt anh là một cánh cửa lùa bằng thép không gỉ, chắc là cửa vào phòng tắm. Qua lớp kính mờ ở nửa trên, anh vừa nhìn thấy bóng dáng mờ ảo của một người.
Nhưng...
"...Ồ. Là mình à?"
Nhận ra bóng người đó trông giống hệt mình, anh thở phào nhẹ nhõm. Căn phòng bên kia tối om, và có vẻ như ánh sáng đèn huỳnh quang đã phản chiếu qua kính mờ, biến nó thành một chiếc gương bất đắc dĩ.
Nhưng mà, đúng là nổi cả da gà.
Chỉ sau khi đã gượng gạo quay lưng lại với cánh cửa, anh mới có thể tập trung quan sát căn phòng xung quanh.
Đây có lẽ là sự kết hợp giữa phòng thay đồ và phòng giặt. Không gian sàn gỗ vốn đã chật hẹp, nay lại bừa bộn chẳng kém gì nhà bếp. Một bình nước giặt lớn loại dùng cho cửa hàng đặt ngay giữa sàn.
Trên bồn rửa mặt có gương, một chiếc bàn chải đánh răng duy nhất nằm trong cốc trên thành bồn. Anh thấy một tuýp kem đánh răng bị bỏ quên không đậy nắp và một chiếc lược còn dính vài sợi tóc trắng bạc.
Có một chiếc máy giặt hai lồng trông như di tích từ vài thập kỷ trước. Một mớ đồ giặt bị lãng quên nằm khô khốc dưới đáy lồng giặt, trông thật ảm đạm.
Anh không thấy điều gì đặc biệt bất thường. Mà thực ra anh cũng chẳng biết mình phải điều tra cái gì hay bằng cách nào...
Chắc là đến phòng tắm nhỉ?
Anh quay lại đối diện với cánh cửa lùa ở cuối phòng một lần nữa, và rồi...
"Hả?"
Đâu đó trong đầu anh, một hồi chuông cảnh báo vang lên.
Có gì đó không đúng.
Anh không biết đó là gì. Những điềm báo này giống như bản năng hoang dã hơn, một thứ gì đó nằm ngoài trí tuệ hay suy nghĩ. Tuy nhiên, trừ khi bạn nhanh chóng tìm ra nguyên nhân, chúng luôn kết thúc bằng thảm họa.
"Ồ."
Khoảnh khắc nhận ra điều đó, anh cảm thấy thân nhiệt mình giảm xuống đột ngột.
Không có bóng.
Bóng người mà anh thấy qua kính ban nãy giờ không còn ở đó nữa. Rõ ràng nó đã ở đó một phút trước, và Seiji cứ ngỡ đó là hình ảnh phản chiếu của chính mình, nhưng...
...nghĩ lại thì...
...anh nghe nói kính soi được là nhờ bề mặt nhẵn nhụi phản chiếu ánh sáng, nhưng bề mặt kính mờ thì đầy những vết lồi lõm li ti. Liệu nó có thể phản chiếu được gì không?
Vậy thì cái đó là...?
Đã có ai đó đứng trong phòng tắm, ở phía bên kia lớp kính đó sao? Họ đã nhìn qua nửa trên của cánh cửa, giống hệt như anh đã làm từ phía bên này sao?
Seiji nuốt nước bọt cái ực.
Run rẩy đặt tay lên cánh cửa lùa, anh bắt đầu mở ra để nhìn vào qua khe hở, thì...
Từ xa, một bản nhạc hiệu bắt đầu vang lên. Có lẽ nó phát ra từ loa phát thanh phòng chống thiên tai trong công viên — một phiên bản méo mó, rè rè của bài "Yuuyake Koyake".
Và rồi...
...cánh cửa rung mạnh rồi mở toang, một cánh tay lao ra chộp lấy cổ áo Seiji.
Mọi chuyện diễn ra chớp nhoáng, trong một khoảng khắc ngắn ngủi đến mức anh còn không kịp chớp mắt. Những gì anh thấy dường như chuyển động chậm lại.
Chủ nhân của cánh tay đó là một gã trẻ tuổi cỡ bằng Seiji. Đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn anh qua làn tóc mái bù xù, dài lòa xòa.
Đột nhiên, kẻ tấn công biến thành một gã đàn ông gớm ghiếc với cái đầu trọc lóc. Ba ngón tay đầy lông lá cào cấu vào không trung một cách thèm thuồng, và một chiếc lưỡi dài ngoằng thò ra khỏi miệng.
Lập tức trở lại bình thường, cánh tay đó giật mạnh cổ áo Seiji, lôi tuột anh vào phòng tắm. Seiji chúi người về phía trước, theo phản xạ chống tay xuống sàn gạch.
Có tiếng gì đó xé gió rít lên.
Thôi xong. Anh xoay người nhìn lên. Gã trẻ tuổi đang đứng ngay phía trên anh, hắn vừa giơ một vật gì đó lên cao quá đầu.
Trông nó giống như một chiếc đồng hồ. Một chiếc đồng hồ đá cẩm thạch kiểu cổ, nặng trịch và chắc chắn. Đúng rồi, loại đó có thể giết người chỉ bằng một cú đập vào đầu.
"Đừng!" Seiji lăn người, né được vào giây cuối cùng, nhưng chiếc đồng hồ lại đập trúng vai anh. Một cơn đau như kim châm tê dại xuyên thấu cả cánh tay, anh rên rỉ, một tay ôm lấy vai. Nhưng anh thậm chí không có thời gian để lăn lộn trên sàn. Kẻ tấn công lập tức túm lấy cổ áo anh, xốc lên và đập mạnh đầu anh vào thành bồn tắm.
Một mùi khét nồng nặc xộc lên mũi, và tầm nhìn của anh tối sầm lại. Anh suýt chút nữa là ngất đi nhưng vẫn cố giữ được ý thức.
Anh ngã ngửa ra sàn, và gã kia cưỡi lên người anh, bắt đầu siết cổ anh bằng tất cả sức bình sinh.
Hai ngón tay cái của hắn lún sâu vào cổ họng anh, ép ra những tiếng rên rỉ nghẹn đặc. Máu cuộn lên trong màng nhĩ, gầm rú, và cả khuôn mặt anh nóng bừng lên.
Chết tiệt, mình phải làm cho Odoro chú ý, nhưng anh ta đang ở bên ngoài!
Anh cần phải hét lên hoặc đập vào thứ gì đó để kêu cứu.
Ngoại trừ...
...Khoan đã.
Tại sao Odoro lại ra ngoài ngay từ đầu? Để gọi điện thoại. Nghe thì có vẻ là một lý do hoàn hảo, nhưng một kẻ như hắn có thèm quan tâm đến phép lịch sự như tránh gọi điện nơi công cộng không? Đặc biệt là vào một đêm mưa gió đến mức nhất thiết phải dùng ô như thế này.
Đừng nói với mình là... anh nghĩ, khi những mảnh ký ức bắt đầu hiện lên hết lớp này đến lớp khác.
Nụ cười nhếch mép đó trên mặt Odoro, ngay trước khi hắn bảo Seiji đi kiểm tra phía sau nhà. Có phải hắn nhìn chằm chằm vào cái tủ ngăn kéo đó là vì hắn đã nhận ra dấu vết nơi chiếc đồng hồ từng đặt ở đó không?
Hắn đã biết chuyện này sẽ xảy ra sao?
Seiji không hiểu tường tận lý do đằng sau. Tuy nhiên, nếu Odoro bằng cách nào đó nhận ra có người đang ẩn nấp trong nhà, đoán được chỗ trốn của họ, rồi lại cử Seiji đến đó...
Vậy thì hắn ra ngoài là để mặc cho Seiji bị giết. Để đảm bảo anh chết ở nơi hắn không nhìn thấy, để không vi phạm thỏa thuận với Takamura.
Đồ khốn kiếp!
Trong một khoảnh khắc, cơn giận dữ suýt chút nữa đã nhuộm đỏ tầm nhìn của Seiji, nhưng bây giờ không phải là lúc. Nếu không làm gì đó, anh sẽ chết. Đó là sự thật. Anh tuyệt đối không thể để chuyện đó xảy ra.
Đây là lần thứ hai có kẻ suýt giết mình.
Lần đầu là khi Serina đuổi theo anh với con dao khắc đá.
Nhưng hồi đó, thành thật mà nói, đâu đó trong thâm tâm, anh đã cam chịu. Anh không muốn thấy đau đớn hay khổ sở hay phải trải qua điều gì kinh khủng, nên anh không muốn chết. Dù vậy, anh đã nghĩ rằng nếu đây là kết thúc, thì cứ kết thúc thôi, anh cũng chẳng làm gì được.
Anh đã sống một cuộc đời không đủ nghiêm túc để mà cảm thấy hối tiếc nếu nó đột ngột bị cắt đứt.
Thực tế, chuyện đó còn chưa là gì cả.
Mình không có gì cả.
Không nhà cửa, không tiền bạc, không công việc, không bạn bè, thậm chí không có lấy một nơi để thuộc về hay một nơi để đi.
Trắng tay.
Anh thực sự đã chẳng có gì hết.
Chà, bây giờ anh vẫn gần như chẳng có gì. Phần đó vẫn vậy.
Nhưng bây giờ...
...anh đã có Shiroshi. Ít nhất, anh đã có một người nói rằng họ cần anh.
Và ngay lúc này, anh còn không biết Shiroshi còn sống hay đã chết.
Không có nỗi hối hận nào có thể lớn hơn thế.
Quờ quạng xung quanh, Seiji tìm thấy chiếc điện thoại trong túi sau và đập nó vào mặt gã kia mạnh nhất có thể. Anh đã đánh trúng mũi hắn, và trong một giây, những ngón tay quanh cổ họng anh nới lỏng ra.
Seiji chớp thời cơ bò ra khỏi người kẻ tấn công. Khi gã kia gượng dậy, ôm lấy cái mũi đau đớn, Seiji lao vào húc mạnh, và cả hai nhào vào bồn tắm, quấn lấy nhau.
Gã kia bị nằm dưới, và hắn bắt đầu đạp như điên. Khi Seiji tuyệt vọng với tay lên thành bồn tắm, tay anh vô tình chạm phải vòi nước. Đánh cược một ván, anh vặn vòi. Nó đang được chuyển sang chế độ hoa sen, và một tia nước bùng ra từ bát sen, bắn thẳng vào mặt kẻ tấn công.
Gã kia suýt chút nữa đã đứng dậy được, nhưng áp lực nước khiến chân hắn trượt đi và ngã lại xuống đáy bồn. Hắn vội vã cố đứng lên, nhưng dòng nước chảy xiết khiến hắn khó lòng tìm được điểm tựa.
Chớp lấy cơ hội, Seiji lao ra khỏi bồn tắm.
Anh lảo đảo qua cánh cửa lùa đang mở vào phòng giặt, rồi vấp phải thứ gì đó và ngã nhào xuống sàn.
Trong khi đó, ở trong phòng tắm...
Cuối cùng cũng tìm thấy vòi nước, gã kia tắt hoa sen đi. Hắn nghe thấy tiếng "thịch" từ phòng giặt, sau đó là tiếng lách cách khi có người chạy qua tấm rèm hạt. Đối thủ của hắn đã chạy trốn vào phòng khách.
Chửi thề một tiếng, gã đập mạnh vào vòi nước trong cơn giận dữ. Một dòng máu rỉ ra từ mũi hắn. Hắn dùng mu bàn tay quệt đi như thể nó làm hắn bực mình, rồi bước ra khỏi bồn tắm, lảo đảo một chút.
Hắn đứng ở phòng giặt, nhìn ra hành lang.
Không có tiếng động nào, không có dấu hiệu cho thấy có ai ở đó. Đối thủ của hắn dường như đã trốn ra ngoài.
Khi hắn nhìn qua cánh cửa đang mở về phía phòng khách, tấm rèm hạt ngăn cách nó với hành lang vẫn còn đang đung đưa nhẹ.
Không có chuyển động nào khác. Vậy là nó thực sự đã chạy mất rồi sao?
Thở phào nhẹ nhõm, hắn bước ra hành lang, tiến về phía phòng khách, và rồi...
...hắn nghe thấy tiếng gì đó xé gió rít lên.
Trước khi gã kia kịp quay lại, Seiji đã nện bình nước giặt lớn nặng bốn ký vào sau đầu hắn.
Một tiếng "bốp" vang lên, và gã gục xuống sàn ngay dưới chân Seiji. Đôi mắt hắn trợn ngược lên đến mức chỉ còn thấy lòng trắng. Hắn đã bất tỉnh nhân sự.
Mẹo nhỏ này vô cùng đơn giản.
Khi Seiji tháo chạy vào phòng giặt, anh đã vấp phải bình nước giặt lớn đó. Anh đã chộp lấy nó và lao ra hành lang, đập vào tấm rèm hạt để nó kêu lách cách to nhất có thể, sau đó ép mình sát vào bức tường cạnh cửa và đợi gã kia đi ra.
Seiji nhìn thì có vẻ không ra gì, nhưng anh đã học được đôi điều sau khi trải qua biết bao tình huống bầm dập.
Dù sao thì, khi anh đi làm thêm, cứ mười lần thì có đến bốn lần kết thúc bằng việc bị đuổi cổ và bảo đừng bao giờ quay lại. Một vài lần trong số đó đã kết thúc bằng bạo lực, và có một lần — khi anh làm việc ở một quán bar mờ ám — anh đã kết thúc bằng một trò chơi đuổi bắt địa ngục với gã chủ quán đang vung vẩy cây gậy đánh golf. Tuy nhiên, anh sẽ phải mang bí mật về lý do của chuyện đó xuống mồ.
Dù vậy, đây là lần đầu tiên mình đánh trả.
Nghiến răng chịu đựng cơn đau ở các khớp xương, anh nhìn xuống gã kia. Hắn trông giống như một con cá heo hay cá voi bị mắc cạn; thậm chí còn chẳng buồn động đậy.
Đừng nói là chết rồi nhé...
Seiji cẩn thận ghé tai vào sát miệng gã và thở phào khi nghe thấy tiếng thở đều đặn đến ngạc nhiên.
Nhưng gã này là cái quái gì chứ?
Xét theo tình hình, hắn chắc chắn đã ẩn nấp trong nhà trước khi Seiji và Odoro đến đây. Nhưng bà Suzu nói bà sống một mình mà. Chỉ có một chiếc bàn chải đánh răng bên bồn rửa mặt, và anh không thấy chiếc dao cạo râu nào cả. Gã này chắc chắn không phải thành viên gia đình sống cùng bà.
Tuy nhiên, hắn có thể liên quan đến những xác chó dưới sàn nhà.
Nhưng mà... không hiểu sao, gã này nhìn cứ quen quen.
Cổ áo khoác của hắn đen sì vì cáu bẩn, và gót giày thể thao thì mòn vẹt đến mức thủng cả lỗ. Đôi gò má hốc hác tái nhợt, và quầng thâm dưới mắt đen như muội than. Khuôn mặt hắn trông như thể đã quá mệt mỏi với cuộc đời này rồi.
Ồ, mình hiểu rồi... Hắn trông giống hệt Seiji của mười tháng trước, khi anh còn lang thang giữa các quán net, bị bọn đòi nợ thuê rượt đuổi.
Ờm... Trước mắt, chắc là mình nên trói hắn lại.
Dù sao thì đó cũng chỉ là một sự giống nhau tình cờ thôi. Không có gì đảm bảo gã này sẽ không bóp cổ anh lần nữa. Khống chế hắn ngay bây giờ có lẽ là bước đi đúng đắn nhất.
Nghĩ vậy, Seiji xốc nách gã và kéo vào phòng khách. Khi anh đang phân vân: Nên tìm ít dây thừng hay dùng dây điện nối dài làm dây trói đây nhỉ?...
"Ồ."
...anh chạm mắt với Odoro. Không biết từ lúc nào, gã đó đã quay lại, và hắn đang đứng thẫn thờ trong phòng khách. Hắn khoanh tay trước ngực và tặc lưỡi đầy bực bội. "Ngươi dai sức đến không ngờ đấy."
Sự căm phẫn của Seiji lên đến đỉnh điểm. Được rồi, thế là quá đủ. Mình sẽ không chỉ cầu cho hắn bị hói nữa. Một ngày nào đó, thề có Chúa, mình sẽ tự tay nhổ sạch tóc hắn. Trong khi anh đang thầm hạ quyết tâm như vậy...
"Và?"
"Hả?"
"Hắn giống loại yêu quái (yokai) nào?"
Có điên tôi mới nói cho anh biết, đồ ngu. Những lời đó đã chực trào trên đầu lưỡi, nhưng rồi anh nghĩ đến bà Suzu và những con chó nên đành nuốt ngược vào trong. Sau khi anh miễn cưỡng giải thích xong...
"Ta hiểu rồi. Himamushi nyuudou (Hỷ Ma Trùng Nhập Đạo) sao?" Odoro nói, nhanh đến ngạc nhiên. "'Khi một kẻ lãng phí thời gian và dành cả đời mình cho sự lười biếng, sau khi chết đi, linh hồn hắn sẽ biến thành một Himamushi nyuudou.' Đó là một yêu quái được mô tả trong cuốn 'Konjaku Hyakki Shūi' của Toriyama Sekien. Như từ 'nyuudou' chỉ ra, nó mang hình dáng của một người đàn ông đầu trọc. Tuy nhiên, thực chất nó là một con gián trong hình hài con người."
Trong cuốn "Bản thảo cương mục" của Trung Quốc, loài gián đực được gọi là "himushi" hoặc "hitorimushi" — bọ "lửa" hoặc bọ "đèn".
"Hơn nữa, cái tên này được coi là một cách chơi chữ: Mặc dù các ký tự được sử dụng để viết từ này khác nhau, nhưng phần 'hima' trong 'himamushi' có thể được hiểu là từ chỉ 'sự rảnh rỗi/lười biếng', trong khi 'mushi' là từ đồng âm với một từ có nghĩa là dành cả đời mình một cách vô ích, chẳng làm nên trò trống gì. Cuối cùng, Sekien giải thích nó là 'những gì mà kẻ dành cả đời sống cực kỳ lười biếng và vô dụng trở thành sau khi chết'."
"Lũ gián rình rập trong bóng tối, tránh né ánh sáng và xâm chiếm nhà của kẻ khác. Chúng bò quanh nhà sau lưng cư dân, ăn lén những thứ đồ thừa và cuối cùng gặm nhấm chính ngôi nhà đó. Và..." Odoro liếc xuống gã thanh niên dưới chân mình. Từ ánh mắt ấy, hắn dường như đang nhìn một con côn trùng thực thụ. "Giống như một con gián, gã này đã lẻn vào nhà bà Suzu. Ban ngày, khi bà ấy ở công viên hoặc siêu thị, và ban đêm, khi bà ấy đã uống thuốc và ngủ say, hắn sẽ đánh một giấc trong phòng khách, sử dụng phòng tắm và nhà vệ sinh, và 'ăn dạo' đống đồ ăn thừa trong bếp. Hắn là một kẻ ký sinh trong ngôi nhà của bà."
Nhìn vẻ ngoài của gã này, hắn có lẽ là một kẻ vô gia cư.
Hắn bằng cách nào đó đã có được chìa khóa nhà bà Suzu. Điều chỉnh thói quen của mình cho phù hợp với nhịp sinh hoạt hàng ngày của chủ nhà, hắn đã thâm nhập và sử dụng ngôi nhà để đáp ứng một phần nhu cầu ăn, mặc, ở của mình.
"Chính chiếc đồng hồ báo thức đã tố cáo hắn. Nếu Suzu nói thật, bà ấy có thói quen vặn núm ở mặt sau và đặt báo thức trước khi đi ngủ mỗi tối. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn vô lý."
"Hả? Tại sao?"
"Nếu bà ấy thức dậy lúc bảy giờ mỗi sáng, thì chẳng có lý do gì để phải đặt lại báo thức cả."
Một tiếng "Ồ" thảng thốt thoát ra từ miệng Seiji. Đúng là như vậy: Nếu bà ấy luôn dậy vào cùng một giờ, bà ấy chẳng cần làm gì ngoài việc bật công tắc báo thức lên.
"Ta đoán rằng khi lẻn vào trong ngày, hắn đã gấp đôi tấm nệm ngồi lại, đặt chiếc đồng hồ vào trong đó và ngủ trưa. Hắn đặt báo thức để đánh thức mình ngay trước khi bà Suzu rời công viên, lúc năm giờ năm mươi chiều. Đó là lý do tại sao bà Suzu cảm thấy mình buộc phải đặt lại báo thức mỗi đêm."
Ra là vậy.
"Rất có thể lũ chó bị giết vì chúng đe dọa đến lối sống ký sinh của hắn. Mỗi lần Suzu nhầm lẫn một con chó với 'Chi' và mang nó về nhà, hắn đã giết nó trong đêm và giấu dưới sàn nhà."
Bà Suzu cứ ngỡ con chó mất tích đã chạy mất, và bà đã đi bộ khắp khu phố, tìm kiếm nó ròng rã ngày này qua tháng khác. Cho đến khi bà quá lo lắng và tìm đến văn phòng thám tử để xin lời khuyên.
"...Thật tàn nhẫn," Seiji lẩm bẩm.
Phía sau anh vang lên một tiếng hét. Gã thanh niên vừa choàng tỉnh và đang ngồi bần thần trên chiếu tatami, rõ ràng là đang rất hoảng loạn. Môi hắn run cầm cập.
Từ từ, Odoro quay đầu lại. Khi nhìn thấy gã đó, hắn nở một nụ cười giễu cợt. Một sự tàn bạo, hung ác hiện rõ trong biểu cảm của hắn.
Thế rồi hắn nện mạnh đầu gậy ba toong xuống sàn nhà.
"Đến đây."
Rầm! Cánh cửa hầm chứa đồ dưới sàn bật tung ra.
Những bóng đen của loài vật bốn chân lao vọt ra ngoài. Có bốn con cả thảy. Mỗi con đều nhỏ bé — thấp đến mức thậm chí còn chưa chạm tới đầu gối của Seiji. Những chiếc mõm há hốc dữ tợn của chúng đầy rẫy những chiếc nanh dài đen kịt.
Những tiếng tru vang lên. Lũ sinh vật nghe như những con chó săn, đang gầm rú báo hiệu cuộc đi săn bắt đầu.
Đó là một cảnh tượng cực kỳ siêu thực, và kẻ xâm nhập trẻ tuổi trố mắt nhìn trong kinh hãi.
"C-cái gì thế kia? Cái quái gì thế kia?!"
"Sunekosuri (Sát Khuyển). Nguyên gốc, mỗi con chính là một con chó mà ngươi đã giết. Ngay cả khi ngươi chết, ta cũng không để ngươi nói rằng mình đã quên đâu."
Odoro búng tay một cái.
"Săn đi."
Hắn vừa mới tuyên án xong. Một sự trừng phạt của Địa ngục dành cho kẻ có tội.
"Á— ÁááááÁ!"
Với một tiếng hét kinh hoàng và loạn lạc, gã thanh niên lao vọt ra khỏi phòng khách. Lướt qua tủ giày ở lối vào, hắn giật tung tay nắm cửa rồi lao thẳng ra đường.
Đàn chó lao theo sau hắn.
Chúng biến mất ngay khoảnh khắc lao qua cửa trước, nhưng tiếng chân của chúng vẫn còn nghe thấy rõ mồn một. Cả tiếng thở hồng hộc của chúng khi chạy hết sức bình sinh nữa.
Những con chó vô hình, lao vun vút trên đường phố mịt mù dưới cơn mưa xối xả: Đó có lẽ chính là hình dạng thực sự của loài Sunekosuri.
Và rồi...
"...Hửm?"
Cảm nhận được một sự hiện diện, Seiji quay lại. Một bóng đen nhỏ bé vừa bước ra từ phòng khách và đang tiến về phía cửa trước bằng những bước chân không vững.
Đây là con thứ năm.
"Hừm. Đó chắc hẳn là con đầu tiên. Con lai Chihuahua mà xác không có ở dưới sàn. Ngay cả khi thể xác không còn ở đó, thì một thứ gì đó như cảm xúc mà nó cảm nhận khi chết dường như vẫn còn sót lại. Đó là cái mà người ta gọi là linh hồn (ma)."
"Vậy thì đó là..."
Đây chính là "Chi", con chó nguyên bản của bà Suzu sao?
Sự oán hận hay giận dữ — khao khát trả thù kẻ đã giết mình — có lẽ là thứ đang dẫn dắt năm con chó này. Một thứ gì đó mãnh liệt đến mức ngay cả việc giết chết gã kia cũng là không đủ.
Hắn đáng bị như vậy... có lẽ thế.
Seiji lắc đầu, cảm thấy chán nản, và rồi...
"Ồ!" anh kêu lên. Trong một khoảnh khắc như có trực giác mách bảo, một khả năng bỗng nảy ra trong đầu anh. "Đ-đợi đã... Đợi một chút!" Cố gắng vận hành những bánh răng trong đầu, Seiji tuyệt vọng tìm kiếm từ ngữ. "Gã đó... có lẽ hắn không hoàn toàn là người xấu."
Nghĩ lại thì, xét theo tình hình, gã đàn ông đó chắc hẳn đang ngủ trưa khi Odoro phá cửa sau. Một cặp đôi khả nghi đã xông vào nhà một bà lão sống một mình trong lúc bà ấy đi vắng, thậm chí còn chẳng buồn cởi giày. Họ rõ ràng là những kẻ trộm hoặc cướp. Nếu hắn nghĩ đến sự an toàn của chính mình, chạy trốn lẽ ra phải là lựa chọn đầu tiên. Thực tế, vì hắn đang đi giày, nên có lẽ ban đầu hắn đã định chạy trốn qua cửa trước.
Thế nhưng...
Cuối cùng, hắn đã chọn lấy chiếc đồng hồ trên tủ và trốn vào phòng tắm. Hắn thực sự đã quay lại vào trong nhà.
Nếu hắn làm vậy là vì bà Suzu...
Hắn biết bà Suzu rời công viên khi bản nhạc hiệu "Yuuyake Koyake" vang lên. Hắn hẳn đã nhận ra rằng nếu bà về nhà mà không hay biết gì, bà sẽ đụng độ ngay với những kẻ xâm nhập.
Có phải gã đó... đã lo lắng cho bà ấy không?
Nếu đó là lý do hắn ở lại trong nhà để xem tình hình diễn ra như thế nào, để đề phòng — điều đó có nghĩa là hắn đã cố gắng cứu bà.
Khi nghe thấy lý lẽ của Seiji, Odoro nhướng mày. "Ta hiểu rồi."
Và rồi hắn khạc một tiếng, "Thì sao?"
Xốc Seiji lên bằng cổ áo, hắn ấn sát khuôn mặt mình vào, giống như một con thú sắp cắn đứt mũi Seiji.
"Phải, ngươi nói đúng. Gã đó có thể đã muốn cứu bà lão mà hắn đang ăn bám. Vậy ngươi đang ám chỉ rằng ta nên tha thứ cho tội lỗi của hắn và ban cho hắn một cơ hội để chuộc lỗi vì điều đó sao? Giống như cái tên 'con lai' (half-breed) kia vẫn làm ư? Hừ! Hai người đúng là những kẻ dị giáo." Giọng hắn đầy đe dọa. "Theo quy tắc, hình phạt của Địa ngục không cần đến khả năng của lòng khoan dung. Trước tội lỗi đã được thực hiện, không có chỗ cho sự châm chước."
Ngược lại, đôi mắt hắn tỉnh táo vô cùng, trống rỗng đến mức dường như không có cảm xúc.
"Suy cho cùng, đối với nạn nhân, tội ác vẫn luôn là tội ác. Bất kể kẻ tội đồ chuộc lỗi thế nào, về cơ bản là không thể có chuyện tội lỗi và sự đền tội cân bằng được với nhau. Vì lý do đó, tất cả những kẻ tội đồ đều có nghĩa vụ phải bị trừng phạt."
Rốt cuộc thì, điều duy nhất không ai có thể làm được chính là hồi sinh người chết.
Đó là lý do tại sao những người bị hại luôn cầu nguyện: Ít nhất hãy trừng phạt kẻ đã làm việc này.
"Nếu một lời xin lỗi là đủ, thì thực sự chẳng cần đến Địa ngục làm gì nữa."
Seiji không có lời nào để đáp lại. Odoro nói đúng: Có những tội lỗi không bao giờ có thể cứu vãn được, bất luận thế nào. Dù gã đàn ông đó có đáng thương đến đâu, những con chó hắn giết cũng không thể sống lại.
Mặc dù vậy...
Gạt tay Odoro ra, Seiji nhặt lại đôi giày anh đã vứt ở cửa sau và lao ra đường phố đầy mưa. Tuy nhiên, anh không biết gã đó đã chạy theo hướng nào.
Mình thực sự hiểu mà, Seiji lẩm bẩm một mình. Anh vỗ mạnh vào má, gạt bỏ sự do dự.
Odoro chắc chắn là người đúng ở đây.
Tuy nhiên, ngay cả khi mọi người đều nguyền rủa gã kia là kẻ sát hại chó và ném đá vào lưng hắn, Seiji cũng không thể cứ thế ngó lơ. Anh đã từng là gã đó.
Nếu anh không gặp Shiroshi, anh chắc chắn mình cũng sẽ kết thúc bằng một kết cục tương tự. Anh không thể lý luận rằng đây là chuyện của người khác được.
Rốt cuộc thì, đã có người cứu mình.
Tuyệt vọng hy vọng vào một manh mối nào đó, anh lấy điện thoại ra và mở trình duyệt, nhưng tìm kiếm từ khóa "sunekosuri" chẳng cho thấy kết quả gì đáng kể.
Thứ gì đó giống như một con chó luồn qua chân những người qua đường vào những buổi tối mưa gió.
Chỉ có vậy thôi.
"Gàááá, chết tiệt!"
Với một tiếng hét giống như tiếng tru, Seiji lao đi trong màn mưa.
...Một mình.
Tâm trạng của mẹ là thứ định hình cho mỗi ngày trôi qua.
Trong trí nhớ xa xăm nhất của Kazushi Migiwa, đó chính là cuộc đời cậu.
Đối với một người quan sát tình cờ, họ có lẽ trông giống như một gia đình bình thường có thể tìm thấy ở bất cứ đâu: một người mẹ hết lòng vì giáo dục và cậu con trai duy nhất nhút nhát, nghiêm túc.
Đối với Kazushi, cả hai giống như một quản ngục và tù nhân của bà ta hơn.
Khi cậu từ trường tiểu học về nhà, mẹ sẽ kèm cặp cậu một-một.
Không, "kèm cặp" không phải là từ đúng. Nó không hề nhẹ nhàng như vậy. Với tư cách là người giám sát, bà ngồi cùng cậu cho đến tận đêm khuya, về mặt kỹ thuật thì đã là sáng hôm sau. Nếu cậu lỡ gật gù dù chỉ trong thoáng chốc, bà sẽ lấy cuốn sách giáo khoa đập vào đầu cậu và hất trà vào mặt cậu.
"Tại sao con lại cứ làm mẹ phải nổi giận hả?!" bà luôn nói như vậy.
Khi Kazushi im lặng chịu đựng lời mắng mỏ của bà, bà lại quở trách cậu bằng câu: "Tại sao không nói gì đi?! Trả lời mẹ xem nào!"
Sau đó, cậu sẽ bị nhốt trong phòng tắm cả đêm. Ánh mắt của hàng xóm có lẽ là lý do duy nhất khiến bà không nhốt cậu ở ngoài nhà. Cậu có nước để uống, ít nhất là thế, nhưng vào mùa đông thì lạnh thấu xương, và vào ban đêm, căn phòng tối đen như mực.
Để cố gắng sưởi ấm một chút, cậu ngồi trên bệ xí có sưởi, ôm lấy đầu gối. Những lúc như vậy, cậu cảm thấy cơ thể mình hoặc là sẽ tan biến vào bóng tối, hoặc là sẽ trở thành một xác chết.
Giá mà điều đó xảy ra, Kazushi nghĩ, nó sẽ khiến mọi thứ trở nên dễ dàng hơn.
Mặc dù vậy, cậu vẫn luôn đạt điểm cao nhất lớp cho đến tận cuối năm lớp chín.
Gã đã thi đỗ vào ngôi trường liên cấp danh giá nhất tỉnh, nhưng chẳng bao lâu sau, gã không còn đủ sức để đến trường được nữa.
Mỗi khi khoác lên mình bộ đồng phục và đứng trước hiên nhà, cơ thể Kazushi lại trở nên nặng trĩu một cách khủng khiếp. Mặc cho mẹ có chửi rủa hay đánh đập thế nào, đôi chân gã vẫn như đeo chì, không thể nhấc nổi lấy một bước.
Gã trở thành một kẻ rút thế giới vào trong bốn bức tường, từ bỏ việc học. Và khi chuyện đó xảy ra, gã cảm thấy như mình vốn đã biết trước kết cục này. Gã chưa bao giờ khớp được với bánh răng của thế giới bên ngoài. Kazushi thấy mình sinh ra không phải để làm người, mà là một sinh vật khác, vô giá trị và thừa thãi.
Ban đầu, mẹ gã còn kiên trì đến trường gặp tư vấn viên và giáo viên chủ nhiệm. Nhưng khi lệnh đuổi học được ban xuống, bà điên cuồng ép gã đi học thêm để lấy bằng tương đương trung học. Cuối cùng, Kazushi trở thành một thứ gì đó đơn giản là... không tồn tại.
Y hệt như cha gã.
Cha gã làm việc tại một cơ quan chính phủ. Ông luôn về nhà đúng mười giờ tối, nhâm nhi chút rượu với bất kỳ thứ gì còn sót lại trong tủ lạnh, và nhìn chằm chằm vào tivi một cách vô hồn.
Tiếng trẻ con khóc lóc trong phòng tắm suốt đêm dường như chẳng mảy may khiến ông bận lòng. Thậm chí ông còn đi vệ sinh vào một cái chai nhựa cho tiện. Giờ đây, mỗi khi cố hình dung lại khuôn mặt cha, điều duy nhất Kazushi nhớ được là gọng kính đồi mồi của ông lúc nào cũng mờ đục những dấu vân tay.
Nếu thay chiếc tivi bằng cái máy tính, thì Kazushi cũng chẳng khác là bao.
Điểm khác biệt duy nhất là mẹ gã thậm chí không chịu nổi sự hiện diện của gã trong tầm mắt. Chỉ cần thấy bóng dáng Kazushi là bà lại mắng nhiếc, đánh đập, sỉ nhục và chà đạp gã không thương tiếc.
Cứ như thể gã là một con gián trong hình hài con người vậy.
Từ lúc nào không hay, Kazushi bắt đầu học cách đợi mẹ đi ngủ mới dám bò ra khỏi phòng, lục lọi tủ lạnh để lấp đầy cái bụng và duy trì sự sống. Gã là một loài sâu bọ sống trong những góc khuất tăm tối của ngôi nhà.
Năm năm trôi qua, một đêm nọ, gã vô tình chạm mặt mẹ trong bếp.
Một túi thuốc kê đơn bị vứt lăn lóc trên bàn. Tên bệnh viện in trên đó cho gã biết bà là bệnh nhân của khoa thần kinh. Nhưng Kazushi chẳng thể thốt nên lời nào với bà.
Gã quay lưng lại với ánh đèn huỳnh quang, cố gắng hòa mình vào bóng tối của hành lang thì nghe thấy một giọng nói hát nghêu ngao không thành điệu:
"Thằng bé ngoan, thằng bé giỏi, thằng bé vô dụng của mẹ..."
Đó là mẹ gã. Bà ngồi đó, đầu gục xuống, mắt nhìn chằm chằm vào túi thuốc.
"Đêm hôm lẻn vào bếp bới đồ ăn, hễ thấy ánh sáng là chạy biến. Con chẳng khác gì một con gián cả."
Rồi bà nhìn gã. Căm thù, uất hận, khinh bỉ—bà dồn nén tất cả những cảm xúc sắp nổ tung đó và chuyển hóa chúng thành những giọt nước mắt lăn dài trên má.
"Không ngờ cái thứ này lại là con của tôi."
Và rồi...
"Tại sao con còn sống?"
Đừng nhìn con.
Điều tiếp theo Kazushi nhận thức được là gã đã vung nắm đấm vào má bà với tất cả sức bình sinh.
Mẹ gã ngã nhào, văng khỏi ghế và đập mạnh xuống sàn.
Bà nhìn gã bằng ánh mắt kinh hãi; khuôn mặt bà chuyển từ trắng bệch sang xám xịt. Là giận dữ, sốc hay sợ hãi? Gã không thể đọc được từ đôi mắt ấy.
Nhưng một khi đã ra tay, gã không thể dừng lại.
Gã bóp cổ, đấm, đá bà túi bụi.
Cha gã dường như đã về nhà đúng mười giờ như thường lệ. Mặc dù ông nhìn thấy cảnh con trai đang cưỡi lên người mẹ mà đánh đập, mặc dù ông nghe thấy tiếng vợ mình gào thét: "Cứu tôi với! Nó định giết tôi!", ông vẫn chỉ dành cả đêm để nhìn chằm chằm vào cái tivi vô hồn kia.
Sáng hôm sau, mẹ gã bò ra khỏi cửa chính, và bà không bao giờ quay lại nữa. Hai tuần sau, Kazushi cũng rời khỏi ngôi nhà đó.
Gã chỉ quay lại đó đúng một lần duy nhất.
Có lẽ cha mẹ gã đã ly hôn. Ngôi nhà giờ chỉ còn là một cái vỏ trống rỗng với tấm biển "BÁN NHÀ".
Sau đó, cuộc đời gã rơi tự do.
Như thể bước hụt vào một cái bẫy sập: gã rơi đầu xuống trước, không cách nào dừng lại được.
Lúc đầu, gã sống vất vưởng trong các quán net, cố tìm việc qua văn phòng Hello Work và các tạp chí tuyển dụng. Nhưng gã chỉ là một kẻ bỏ học trung học, mới hoàn thành chương trình cấp hai. Gã không địa chỉ cố định, không ID, cũng chẳng có ai đứng ra bảo lãnh. Với "vốn liếng" là một con số không tròn trĩnh như thế, gã chẳng có lấy một cơ hội tìm được công việc tử tế.
Gã xoay xở đăng ký trên một trang web tuyển dụng qua điện thoại và tìm được vài công việc chân tay theo ngày tại các kho bãi và nhà máy. Nhưng công việc nào cũng đầy rẫy người nộp đơn. Một tuần có được hai ngày làm việc đã là may mắn lắm rồi.
Khi tiền cạn dần, quần áo gã bắt đầu loang lổ vết mồ hôi, mái tóc bết dầu bốc mùi hôi hám. Vì không có chỗ ngủ ổn định, quầng thâm dưới mắt gã ngày càng sâu, và đầu óc thì lúc nào cũng mụ mẫm.
Không nhà, không tiền, không việc làm.
Cuộc đời gã là một thứ rác rưởi.
Gã chẳng có gì cả.
Trong lúc tìm chỗ ngả lưng, cuối cùng gã dừng chân tại một công viên nhỏ.
Công viên đó như một cái hố sâu nằm giữa lòng thành phố: chỉ có một cái cầu tuột, một chiếc ghế băng cho hai người và một vòi nước uống, ngoài ra chẳng có gì khác.
Vào mỗi buổi chiều, bản nhạc "Yuuyake Koyake" lại vang lên từ chiếc loa phát thanh, nhưng chẳng có đứa trẻ nào ở đó để nghe. Thậm chí chẳng có ai đi ngang qua.
Tất cả những điều đó lại vô cùng thuận tiện cho Kazushi.
Một ngày tháng Tư, gã đang gội đầu và rửa mặt tại vòi nước rồi nằm dài trên ghế băng thì một con chó từ đâu xuất hiện. Đó là một con lai Chihuahua. Vì nó không có vòng cổ, có lẽ nó là chó lạc hoặc bị ai đó bỏ rơi.
Nó chống hai chân trước lên ghế băng, đánh hơi Kazushi bằng cái mũi ươn ướt.
Khi Kazushi ngồi dậy, nó lùi lại nhưng vẫn ngước nhìn gã bằng đôi mắt dò xét, kiên định. Nó không tỏ vẻ nghi ngờ, mà giống như đang phân vân không biết có nên vẫy đuôi hay không. Gần như vô thức, Kazushi đưa tay ra; con chó ngửi tay gã rồi dụi đầu vào lòng bàn tay gã.
"... Mày đói à?"
Khi gã xé một mẩu bánh mì đưa ra, con chó ăn ngấu nghiến, liếm láp một cách ồn ào. Chắc hẳn nó đã lả đi vì đói. Ăn xong, nó chống chân lên đầu gối Kazushi, liếm khắp mũi gã, vẫy đuôi mạnh đến mức tưởng chừng như cái đuôi sắp rụng ra đến nơi.
Kể từ đó, công viên có hai cư dân: một người, một chó.
Kazushi cho nó ăn vì gã thích thế; nó có thể rời đi bất cứ lúc nào nó muốn. Thái độ của gã rất hờ hững, nhưng con chó thì chẳng bao giờ rời gã nửa bước.
Nó luôn bận rộn chạy quanh, đào hố trong hố cát hay chúi đầu vào đám cỏ dại để đánh hơi đủ thứ mùi. Dáng chạy của nó có chút loạng choạng kỳ lạ, và nó có thói quen vòi vĩnh Kazushi bế lên ngay cả khi gặp một bậc thang nhỏ xíu.
Mỗi khi Kazushi gọi: "Này," nó lại quay phắt lại nhìn gã và vẫy đuôi. Rồi nó sẽ chạy đến nhanh nhất có thể, ngửi bàn tay đang đưa ra của gã, nhảy vào lòng gã và liếm lấy liếm để.
Kazushi gọi nó là Chako, nghĩa là "cô bé màu nâu".
Lý do đơn giản thôi: con chó màu nâu và nó là giống cái.
Nhưng một khi đã đặt tên, con chó đó đã trở thành của Kazushi. Dù gã biết mình chẳng có quyền gì để sở hữu một con chó cả.
Dù vậy, mỗi khi gã gọi "Chako," cái đuôi ấy lại vẫy tít mù. Khi gã vỗ nhẹ vào đầu hay vuốt ve lưng, nó lại khịt mũi đầy hạnh phúc.
Tháng Sáu, khi mùa hè đã cận kề, cuộc sống của họ có chút thay đổi.
Một "kẻ xâm nhập" bắt đầu ghé thăm công viên.
Tên bà là Suzu Torikai.
"Ôi chao, con muốn ăn cái này à?"
Khi Chako đứng bằng hai chân sau và hếch mũi vào chiếc xe đẩy của bà lão, bà Suzu lấy ra một miếng gà rán, giải thích rằng bà vừa ghé qua siêu thị trên đường về nhà.
"Bác sĩ bảo tôi phải ra ngoài phơi nắng thật nhiều. Tôi định ra đây ngồi sưởi nắng, ai ngờ lại có một em bé đáng yêu thế này chiếm chỗ mất rồi." Vừa nói, bà Suzu vừa bế Chako lên. Những nếp nhăn li ti nơi đuôi mắt bà sâu thêm, trông bà thật hiền từ và đôn hậu.
Gã suýt nữa đã hỏi: Bà có muốn nhận nuôi con chó này không?
Nhưng vì lý do nào đó, gã không thể thốt ra lời.
Bà Suzu rút ngắn cái tên vốn đã ngắn của Chako lại, gọi nó là "Chi".
Bà kể bà đã dành một thời gian rất dài để chăm sóc ông bà và cha mẹ mình, rồi họ cứ thế lần lượt qua đời. Kể từ đó bà sống thui thủi một mình. Có lần bà sơ ý làm cháy cả cái nồi vì quên tắt bếp, nên dạo này bà toàn mua đồ ăn sẵn ở siêu thị cho qua bữa.
"Xin lỗi vì chỉ là đồ ăn thừa, nhưng nếu con không chê..." bà nói một cách ái ngại, rồi bà cho Chako ăn xúc xích cá hoặc thịt nguội giảm giá, còn Kazushi thì được bà đãi món inari sushi hay hộp cơm trưa đặc biệt trong ngày.
Bà cũng kể cho họ nghe đôi chút về bản thân.
Bà nói mình rất cô đơn vì người duy nhất bà có thể trò chuyện cùng là người hàng xóm thì nay cũng đã vào viện dưỡng lão. Bà bắt đầu chỉ quanh quẩn trong nhà và kết cục là bị chứng mất ngủ hành hạ, nên bệnh viện đã kê cho bà ít thuốc ngủ, chúng có tác dụng rất tốt.
"Nếu lâu ngày không nói chuyện với ai, bà cảm thấy như mình sắp quên luôn cả tên của mình vậy. Ngay cả khi bà tự hỏi 'Ơ, mình là ai nhỉ?', thì cũng chẳng có ai để mà hỏi cả."
Giọng bà chậm rãi, với một nhịp điệu khiến Kazushi cảm thấy hơi buồn ngủ, bà vừa nói vừa vuốt ve đầu Chako.
Vậy sao bà không nuôi một con chó đi?
Đó chỉ là một suy nghĩ thoáng qua, nhưng gã vẫn không thể nói ra. Gã cũng không thể tiết lộ hoàn cảnh của mình cho bà lão tội nghiệp này, người mà cuộc sống cô độc đang dần bị chứng mất ngủ và căn bệnh mất trí nhớ bào mòn.
Gã thậm chí không thể thừa nhận rằng mình không muốn rời xa Chako. Tuy nhiên, một ngày nọ, khi mùa đông đang đến gần...
"Con sẽ không ở đây nữa đâu, xin bà hãy chăm sóc nó."
Ấn Chako vào tay bà Suzu, Kazushi chạy biến khỏi công viên.
Một thời gian ngắn sau đó, gã tìm được một công việc tại công trường có cung cấp chỗ ở nội trú. Nếu có Chako, gã đã không thể nhận việc này. Nhưng hình bóng nó cứ ám ảnh gã, và có một lần, gã đã lén quay lại công viên để nhìn.
Bà Suzu ở đó, ngồi trên ghế băng với Chako trong lòng. Bà vuốt ve lưng con chó theo một nhịp điệu thong thả, miệng không ngừng trò chuyện với nó như với một đứa trẻ nhỏ.
Họ trông thật hạnh phúc.
Năm mới đến, và Kazushi lại thất nghiệp. Thay vì quay về chốn cũ, gã bắt đầu ngủ tại một công viên trẻ em gần ga tàu. Ban ngày bọn trẻ rất ồn ào, nhưng ở đó có một phòng vệ sinh dành cho người khuyết tật, nơi gã có thể trú mưa trú tuyết.
Hơn nữa, không có người vô gia cư nào khác chiếm giữ lãnh thổ này.
Tuy nhiên...
Vào một đêm muộn, tiếng pháo nổ làm gã giật mình tỉnh giấc. Khi gã lao ra khỏi phòng vệ sinh, ai đó đã phóng một quả pháo thăng thiên thẳng về phía gã. Quả cầu lửa nhắm thẳng vào mặt gã, nhưng nó đã đập trúng lòng bàn tay gã giơ lên để che chắn, nổ tung và khiến gã bị bỏng. Nếu nó trúng vào mắt, gã đã bị mù rồi.
"Nhắm vào mặt nó ấy! Vào mặt nó!"
"Chọc mù mắt nó đi! Lên đi!"
Những giọng nói chế nhạo đó nghe không giống thanh niên mà giống trẻ con hơn. Đó là những học sinh cấp hai đang học tại lò luyện thi trước ga.
Gã đã sai lầm. Công viên này không có người vô gia cư nào ở là vì nó vốn là "vùng săn đuổi" của lũ trẻ cấp hai đang muốn xả stress từ kỳ thi chuyển cấp.
Nhưng lúc đó, Kazushi cảm thấy giận dữ hơn là sợ hãi.
Gã giận đến mức muốn giết người.
Điều tiếp theo gã biết là gã đã túm lấy cổ áo của một đứa nhóc chạy không kịp, vật nó xuống rồi bồi thêm hai ba cú đá. Tiếng rên rỉ của thằng bé chuyển thành tiếng nấc nghẹn ngào, nó cuộn tròn người lại như một con sâu bướm. Nó run rẩy, khuôn mặt bê bết nước mũi và nước mắt.
Sau một cú đá cuối cùng nhắm thẳng vào mặt thằng bé, Kazushi rời khỏi công viên. Chiếc giày của gã có cảm giác kỳ lạ. Khi kiểm tra đế giày, một chiếc răng cửa bị gãy găm chặt vào rãnh đế giày thể thao như một viên sỏi.
Chết tiệt, gã nghĩ.
Nếu gã chỉ làm mặt thằng bé bầm tím, gã có thể đã thoát tội, nhưng chấn thương mức độ này chắc chắn sẽ bị báo cảnh sát. Gã có lẽ sẽ không bao giờ dám bén mảng đến gần công viên đó nữa.
Nếu họ tìm thấy gã, mọi chuyện sẽ kết thúc: họ sẽ tiêu diệt gã một cách nhanh chóng như thể người ta dùng dép đập bẹp một con gián.
Giống như một con gián.
Một thứ mà chỉ riêng sự hiện diện của nó đã gây khó chịu. Một loài sâu bọ cần bị nghiền nát vì lợi ích của thế giới.
Và trong trường hợp đó, tại sao gã phải tử tế với người khác? Suy cho cùng, gián thì vẫn hoàn gián mà thôi.
Kể từ đó, gã chỉ có thể nói rằng mình đã bị quỷ ám.
Điều tiếp theo gã làm là đứng trước cửa nhà bà Suzu, mở khóa cửa chính. Bà đã từng kể cho gã rằng bà giấu một chiếc chìa khóa dự phòng trong chậu hoa cạnh lối vào, đề phòng trường hợp bà lỡ đánh rơi chìa khóa.
Gã dự định sẽ trộm ít tiền trong ví của bà khi bà đã ngủ say. Gã tính toán rằng nếu bà thức giấc, gã sẽ dùng dây điện trói bà lại và đe dọa bà bằng một con dao trong bếp.
Khi bước chân vào cửa, gã thấy mình đứng trong một phòng khách mang hơi ấm kiểu cũ. Bà Suzu ở đó, đang nằm trên đệm futon. Bà ngủ say như chết. Chỉ có chiếc bóng đèn ngủ của đèn huỳnh quang là đang bật, và trong ánh sáng lờ mờ, khuôn mặt bà trông chẳng khác gì một xác chết thực sự.
Trái tim gã đập thình thịch trong lồng ngực. Trong một nỗ lực bốc đồng để kiểm tra xem bà còn thở hay không, gã đưa tay về phía mặt bà, và rồi...
...một cơn đau nhói truyền đến từ gốc ngón tay út.
Là một con chó.
Chako đã chui ra từ dưới tấm chăn, nó hạ thấp người, gầm gừ, mõm nhăn nhúm lại. Một giây sau, khi thấy những giọt máu trào ra theo dấu vết của một hàm răng, gã nhận ra nó đã cắn mình.
Cứ như thể nó đã hoàn toàn quên mất Kazushi, người đã từng sống cùng nó chỉ vài tháng trước.
Gã cảm thấy như nó đang nói với gã: Tao không cần mày.
Những lời gã từng nghe mẹ mình nói bỗng ùa về một cách sống động.
Tại sao con còn sống?
Trong khoảnh khắc, tầm nhìn của gã tối sầm lại, và Chako bay vọt qua không trung, đập mạnh vào tường, rơi xuống sàn và nằm bất động.
Thoạt nhìn, trông nó như đang ngủ, lưỡi thè ra, nhưng nó không còn thở nữa. Tim nó đã ngừng đập. Cơ thể nó vẫn còn ấm—có vẻ như gã vẫn còn có thể cứu vãn được chuyện này bằng cách nào đó.
...Cho đến khi bình minh ló rạng, gã đi ra ngoài và chôn xác nó dưới gốc cây trong vườn trước khi bà Suzu tỉnh dậy.
Sau đó, mọi chuyện cứ thế lặp lại.
Bà Suzu lang thang khắp thị trấn để tìm kiếm Chako đã biến mất. Kazushi tận dụng cơ hội đó để lẻn vào nhà bà, dùng nhờ phòng tắm và lục tìm đồ ăn thừa để duy trì sự sống.
Chẳng bao lâu sau, bà Suzu mang về con "Chi" thứ hai. Kazushi cũng giết chết con chó đó, nhưng gã không còn sức để đào hố trong vườn để chôn nó nữa. Gã chỉ việc ném nó vào hầm chứa đồ dưới sàn bếp và giả vờ như nó không tồn tại.
Có lẽ gã đã muốn bà Suzu nhận ra. Tuy nhiên, ba con chó, bốn con, rồi năm con—số lượng cứ thế tăng dần, và mỗi lần như vậy, mùi hôi thối trong nhà lại càng tệ hơn.
Gã không thể nghĩ về những gì đã xảy ra trước đó, hay những gì có thể xảy ra sau này. Gã không thể suy nghĩ gì được nữa.
Gã chỉ là không biết gì nữa thôi. Gã không biết mình nên sống thế nào.
Chỉ có một câu nói cứ lặp đi lặp lại trong đầu gã:
Tại sao con còn sống?
Và bây giờ...
...Kazushi đang chạy thục mạng trên một con đường vắng vẻ trong khu dân cư dưới màn mưa.
Dù có chạy bao xa, gã cũng không thể thấy bình yên. Cảm giác như gã đang ở trong một cơn ác mộng không có lối thoát.
Gã biết tại sao: gã đang bị truy đuổi.
Gã có thể nghe thấy tiếng thở hồng hộc. Tiếng chân của loài bốn chân đang bám sát gã. Dù có quay lại, gã cũng sẽ không thấy con chó nào. Nhưng chúng đang ở ngay sát gót gã.
Nếu dừng lại, gã coi như xong đời. Ngay cả khi gã cứ chạy, chúng rồi cũng sẽ bắt kịp gã.
Bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi và lo âu, gã cứ thế lao đi mù quáng. Gã đứt hơi, tiếng thở dốc, ồn ào nghe như tiếng bể lò rèn.
Rồi...
"Hả?"
...từ đâu đó, một mùi hương quen thuộc xộc thẳng vào mũi gã.
Đó là mùi động vật—mùi hôi hám của một con chó ướt đẫm nước mưa.
Nó vượt qua mình rồi! Ngay khi gã nhận ra điều đó, một vật gì đó rắn chắc đâm sầm vào dưới đầu gối gã.
Chưa kịp há miệng kêu lên, gã đã đổ nhào về phía trước. Gã đưa tay ra để chống đỡ; sỏi đá đâm vào lòng bàn tay, đầu gối thì trầy trụa thảm hại. Vừa rồi, chắc chắn có thứ gì đó đã lao vào chân gã.
"...Ghk. Đau quá..."
Khi gã rên rỉ và cố gắng gượng dậy, gã nhận ra mình đang đứng ngay dưới một cột đèn đường. Ánh sáng nhợt nhạt, nhân tạo đổ xuống một vũng nước nông trên vỉa hè.
Tõm. Một vòng tròn gợn sóng nhỏ lan tỏa trên mặt nước.
Bõm, bõm, bõm.
Cứ như thể những con chó vô hình đang chạy qua vũng nước. Gã nghe thấy một tiếng gầm gừ nhỏ. Tiếng chân nhích lại gần gã từ mọi phía.
Gã đã bị bao vây.
"Á, ááá!"
Kazushi chạy biến như một con thỏ, và rồi một cú va chạm khác lại truyền qua đôi chân gã.
Lần này gã thậm chí còn không kịp đưa tay ra che chắn, cả khuôn mặt gã cày xuống đường nhựa. Gã đập trán mạnh đến mức nổ đom đóm mắt. Cú ngã làm trợt đi một mảng da lớn, và một giây sau, dòng máu đặc trào ra, chảy tràn khắp mặt. Gã gần như bị máu bao phủ.
"L-làm ơn tha—!"
Từ lúc đó, mọi chuyện cứ thế tiếp diễn.
Mỗi khi có thứ gì đó đâm sầm vào chân, gã lại trầy má, trẹo cổ chân, gãy răng, rách môi. Có lẽ gã cũng đã bị gãy mũi rồi.
Dù vậy, những tiếng tru và tiếng chân của đàn chó vô hình vẫn không để gã dừng lại.
Gã đang bị săn đuổi.
Chúng giống như những con chó săn đang dồn đuổi con mồi của mình.
Và rồi...
...như một cuộc tấn công bất ngờ, một ánh sáng đỏ lóe lên trong tầm mắt. Bên cạnh một tấm biển ghi "ĐƯỜNG CẤM", có một chiếc đèn đỏ đang nhấp nháy với dòng chữ "Công trình đang thi công". Họ đang di dời một đường ống cấp nước.
Phía sau vài chiếc cọc tiêu xây dựng đặt sát nhau thành một nhóm, có một cái hố sâu thót lại khoảng hai mét.
Không.
Kazushi nuốt nước bọt một cách nặng nề, nuốt xuống cả vị nước bọt tanh mùi máu.
Gã đã nhận ra: lũ chó vô hình đã cố tình lùa gã đến đây. Chúng đang định đẩy gã xuống cái hố đó.
Phải chạy thôi.
Chúng sẽ giết mình mất.
Đôi chân run rẩy, gã cố gắng quay lại, nhưng rồi...
"...Hả?"
...một cú huých cực mạnh giáng thẳng vào ngực gã. Cứ như thể tất cả lũ chó đã cùng lúc lao mình khỏi mặt đường và húc sầm vào gã.
Khoảnh khắc tiếp theo, đế giày thể thao của gã rời khỏi mặt đất. Thế giới dường như đảo lộn, và một cảm giác bồng bềnh ngắn ngủi quét qua người gã. Trước khi Kazushi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, cú va chạm đã hất văng gã ra sau qua những chiếc cọc tiêu, và rồi gã rơi đầu xuống trước.
Khi tỉnh lại, gã đang ở dưới đáy hố, ngước nhìn một khoảng trời tròn. Trong một khoảnh khắc, ánh sáng của chiếc đèn cảnh báo dường như đã biến những tia mưa đang tỏa ra thành những vệt đỏ.
Gã không còn cảm thấy lũ chó ở đâu nữa. Có lẽ tất cả chỉ là do gã tưởng tượng, một vở kịch độc diễn được thúc đẩy bởi sự mê sảng và ảo giác.
Cuộc đi săn đã kết thúc.
Gã cố gắng cựa quậy, nhưng không thể cử động. Phía sau đầu gã đau nhức nhối.
Những bàn tay vô hình dường như đang đóng một chiếc cọc nung đỏ vào đó. Cảm giác như hộp sọ gã đang nứt ra—thực tế, chắc là nó đã nứt thật rồi.
Vết nứt trên đầu gã đập liên hồi. Cảm giác như có một trái tim đang nằm trong hộp sọ gã. Máu trào ra theo mỗi nhịp đập đang nhanh chóng làm yếu đi trái tim trong lồng ngực gã.
Mình phải kêu cứu, gã nghĩ, nhưng tất cả những gì phát ra từ cổ họng gã chỉ là một tiếng rên rỉ nghẹt đặc. Gã thậm chí không thể cất cao giọng, và tầm nhìn của gã đang dần mờ đi.
Khu vực này im lìm và tĩnh lặng, gã không nghe thấy tiếng bước chân hay tiếng xe cộ qua lại nào. Con đường này vốn dĩ đã ít người qua lại, và giờ đây còn có tấm biển "ĐƯỜNG CẤM" thôi thúc người qua đường đi đường vòng.
Hoàn toàn có khả năng sẽ không có ai nhận ra gã cho đến khi công việc thi công tiếp tục vào sáng hôm sau và họ tìm thấy xác gã dưới đáy hố.
Ồ, mình hiểu rồi... Mình sẽ chết ở đây.
Khi nhận ra điều đó, mọi thứ đột nhiên trở nên quá mệt mỏi. Chạy đôn chạy đáo tìm cách thoát thân chỉ mang lại cho gã thêm đau đớn, và điều đó dường như hoàn toàn nực cười. Gã không muốn đau đớn, khổ sở hay vật lộn, nhưng gã cũng chẳng sống đủ nghiêm túc để mà bám víu vào sự sống.
Nếu mình chết ở đây, tất cả sẽ kết thúc, gã nghĩ, thở hắt ra một cách đầy nhẹ nhõm. Ngay lúc đó, gã nghe thấy tiếng thở dốc, ướt át, theo sau là tiếng những bàn chân nhỏ trên sỏi đá.
Nó ở đây. Rất, rất gần gã.
Con chó có lẽ chỉ có một mình. Tiếng bước chân của nó nghe hơi không vững, nhưng nó đang đi thẳng về phía gã.
Kazushi có thể cử động mắt một chút, nhưng ánh sáng đỏ trên đường không chiếu xuống tới đáy hố, và xung quanh gã tối đen như mực.
Gã không nhìn thấy gì cả.
Rồi một thứ gì đó chạm vào những ngón tay đang ngửa lên của gã.
Một luồng hoài niệm ập đến cho gã biết cảm giác đó là gì: một cái mũi ươn ướt, áp vào đầu ngón tay gã.
Là Chako.
Gã cứ ngỡ nó sẽ cắn gã. Nó sẽ gặm nát ngón tay gã để trả thù vì gã đã đá chết nó. Sau những gì gã đã làm, gã chẳng dám mong cầu điều gì tốt đẹp hơn.
Nhưng rồi một chiếc lưỡi nóng hổi liếm vào gốc ngón tay út của gã.
Điều đó khơi gợi một ký ức.
Trước khi liếm mặt hay tay gã, Chako luôn đánh hơi gã trước. Cứ như thể nó đang kiểm tra để chắc chắn rằng người trước mặt thực sự là Kazushi.
Đột nhiên, một khả năng nảy ra trong đầu gã.
Chẳng lẽ là...?
Vài mảnh ký ức vụn vặt khớp lại với nhau như những miếng ghép hình.
Có phải mắt của Chako vốn đã yếu không?
Có lẽ nó luôn đánh hơi Kazushi trước khi vẫy đuôi hay liếm gã là vì, nếu không làm vậy, nó thực sự sẽ không biết đó là gã.
Nghĩ lại thì, nếu nó không thể nhìn rõ mặt đất, điều đó sẽ giải thích cho dáng đi hơi vụng về của nó và cái cách nó vòi vĩnh gã bế lên mỗi khi gặp bậc thang, dù là nhỏ xíu. Đó có lẽ cũng là lý do tại sao chủ cũ của nó đã bỏ rơi nó.
Vậy thì đợi đã, đừng nói với mình là... Hồi đó...
Khi Chako cắn Kazushi sau khi họ xa cách vài tháng, có phải là vì nó nghĩ gã chỉ là một kẻ xâm nhập từ đâu tới không? Với đôi mắt kém, nó đã không nhận ra đó là gã. Nếu nó chỉ nhe nanh múa vuốt với gã trong một nỗ lực tuyệt vọng để bảo vệ bà Suzu...
"Không..." Tiếng lẩm bẩm mê sảng của gã bị cắt đứt bởi một cơn ho ra máu.
Chako vẫn đang liếm gốc ngón tay út của gã. Nó rên rỉ khe khẽ, như thể nó đang lo lắng.
Và rồi, cuối cùng, Kazushi cũng hiểu ra.
Đó chính là nơi nó đã cắn gã.
Không, không thể nào...
Nếu Chako ở đây với gã lúc này là một linh hồn...
Điều gì sẽ xảy ra nếu, trong khoảnh khắc trước khi chết, nó nhận ra kẻ xâm nhập mà nó đã cắn chính là Kazushi?
Điều gì sẽ xảy ra nếu cảm xúc còn đọng lại trong nó cho đến tận hơi thở cuối cùng không phải là sự tức giận hay oán hận, mà là cảm giác tội lỗi vì nó đã cắn gã?
Điều gì sẽ xảy ra nếu nó lo lắng rằng mình đã làm gã đau, làm gã bị thương, và nó muốn liếm vết thương của gã và mong được gã tha thứ để chúng có thể lại làm bạn với nhau...?
Đừng nói với mình là, ngay cả sau khi chết, suốt thời gian qua...
Nó đã muốn xin lỗi gã sao? Để nó có thể lại được chơi đùa, ngủ nghỉ và đi dạo bên cạnh gã? Để chúng có thể ở bên nhau, người và chó?
Tiếng hét định xé toạc cổ họng Kazushi tan biến thành một cơn ho sặc sụa máu, và tất cả những gì còn lại là một tiếng rên rỉ không thành lời.
Nghe nó gần giống như tiếng kêu của một con thú.
Càng chạy xa, Seiji càng thấy mưa nặng hạt hơn.
Anh chạy hết đường này đến hẻm nọ, tìm kiếm lũ chó đã biến thành Sunekosuri và gã mà chúng đang truy đuổi. Nhìn từ trên cao, anh chắc hẳn giống như một con chuột trong mê cung.
Anh chỉ có thể chạy hết tốc lực lúc ban đầu, sau đó anh nhanh chóng đứt hơi. Tầm nhìn của anh chao đảo theo mỗi bước chân. Sức lực của anh đã cạn kiệt đến mức đầu gối bủn rủn.
Anh cứ chạy và chạy, nhưng điều tiếp theo anh biết là mình cơ bản chỉ đang đi bộ. Đâu đó trong hơi thở của anh đã chuyển thành màu trắng. Có tuyết lẫn trong mưa, và anh cảm thấy mình như sắp chết cóng ngay trên đôi chân của mình.
Anh bắt đầu nghi ngờ rằng tất cả có thể là vô ích. Thật là tự phụ khi anh cố gắng can thiệp vào cuộc đời của người khác ngay từ đầu.
Anh chẳng thể làm gì cả, mà cũng chẳng cần thiết phải làm gì. Cố gắng cứu một ai đó là điều không thể. Đó là cách anh đã sống bấy lâu nay.
"Nhưng mà...," Seiji lẩm bẩm. Anh lắc đầu như một con chó để rũ nước mưa. Shiroshi chắc chắn sẽ ngăn họ lại.
Khoảnh khắc anh nghĩ vậy, nhận xét sắc bén của Odoro lại vang lên bên tai.
"Hai người đúng là những kẻ dị giáo."
Hắn có lẽ đã đúng. Dù vậy, Shiroshi cũng không sai. Odoro cân đo mức độ nghiêm trọng của tội ác, rồi đưa ra một hình phạt thích đáng. Ngược lại, Shiroshi cố gắng thấu hiểu con người đã phạm tội.
Kẻ tội đồ và người bị hại.
Cả hai đều là con người. Những con người vô vọng, theo như Shiroshi nhìn nhận.
Họ bị tổn thương, bị lừa dối và bị hại.
Họ cũng gây ra vết thương, lừa dối người khác và làm hại họ.
Với tư cách là nạn nhân, họ cầu nguyện cho tội phạm bị trừng phạt.
Với tư cách là tội phạm, họ hy vọng vào một cơ hội để chuộc lỗi.
Con người là như vậy đó.
Nếu có ai đó giết mình thì sao?
Nếu mình giết một ai đó thì sao?
Dù cán cân đó nghiêng về bên nào, đó cũng chính là bản án mà Shiroshi đưa ra.
Trong khoảnh khắc đó, một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu Seiji. Anh ước gì mình đã không nghĩ thế.
Bạn biết đấy, mình không thực sự chắc Shiroshi phù hợp để làm Ma Vương (Demon King) đâu.
Nghĩ lại thì... Không, anh thậm chí không cần phải nghĩ về chuyện đó.
Shiroshi hiểu con người quá rõ.
Ngay cả khi anh ta giành được ngai vàng... chẳng lẽ thứ duy nhất chờ đợi anh ta ở đó chỉ là sự cô độc không tưởng sao? Anh ta sẽ là người duy nhất có trái tim con người, vây quanh bởi những thuộc hạ siêu nhiên.
Hoàn toàn cô độc.
Có lẽ đó là lý do tại sao Shiroshi lại hời hợt trong việc phán xét tội nhân đến thế: bởi vì anh ta không muốn sống như vậy.
Ngay cả khi đó là con đường duy nhất để giành lấy tự do cho mình.
Điều đó có nghĩa là Shiroshi cũng không biết mình nên sống như thế nào sao?
Đột nhiên, Seiji nghe thấy tiếng còi hú. Một vệt đỏ xé toạc tầm nhìn của anh, và sau đó một chiếc xe trắng đỏ rẽ qua góc đường.
Một chiếc xe cứu thương.
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Seiji, và máu anh như đông cứng lại. Đôi chân anh dọa sẽ run rẩy, nhưng anh đã kiểm soát được chúng và bước qua góc đường một cách hơi loạng choạng.
Tiếng còi hú đã tắt, nhưng ánh đèn đỏ của nó vẫn nhấp nháy liên hồi. Một đám đông hiếu kỳ cầm ô đã tụ tập quanh chiếc xe cứu thương.
Ai đó trên cáng đang được đưa vào phía sau xe.
Một cánh tay buông thõng xuống bên cạnh, nhợt nhạt đến mức cảnh tượng đó in hằn vào võng mạc của Seiji. Nó có thể thuộc về một cái xác không còn giọt máu nào.
Không, đừng nói với tôi là...
Loạng choạng, Seiji tiến lại gần hơn. Sau đó, anh nhận thấy một cái hố lớn trên con đường phía trước—một công trường xây dựng.
Anh cũng nhìn thấy vũng máu dưới đáy hố và một chiếc giày thể thao có lỗ thủng ở gót. Nó có lẽ đã rơi ra khi họ nhấc gã đó lên.
Ồ, mình hiểu rồi. Vậy là hắn đã chết.
Không khí dường như quá loãng, và sức lực rời bỏ đôi chân Seiji. Anh cảm thấy như mình có thể ngã nhào xuống cái hố đó, đôi chân anh bám chặt lấy mặt đường như thể đã mọc rễ. Anh không thể cử động.
Một cảm giác vô vọng bao trùm lấy anh, và Seiji thấy mình lặp đi lặp lại một câu duy nhất.
Mình đã quá muộn.
Mình lại quá muộn một lần nữa.
Hai giờ sau, tại Văn phòng Thám tử Rindou...
Seiji đã quay lại trong tình trạng ướt như chuột lột. Khi anh hắt hơi một cái thật to và khoa trương, Odoro nhíu mày ghê tởm và ném cho anh một chiếc khăn tắm.
Sụt sịt, Seiji lau khô đầu và cơ thể sũng nước của mình, rồi ngồi thu người lại với chiếc khăn trùm qua đầu và quanh vai như một chiếc áo choàng. Đến lúc đó, cuối cùng, anh mới bắt đầu cảm thấy mình tỉnh táo trở lại.
Gã không còn đủ sức để nhấc nổi một ngón tay, nhưng hàm răng thì cứ va vào nhau cầm cập. Những cơn lạnh buốt dọc sống lưng, đầu đau như búa bổ, cảm giác như vừa bị ai đó đấm thẳng vào thái dương. Gã biết mình đã bị cảm lạnh.
Nhưng suy cho cùng, chạy đôn chạy đáo dưới màn mưa rét căm căm mà không có lấy một mảnh che thân thì bị thế này vẫn còn là nhẹ.
Ít ra, gã vẫn còn may mắn hơn kẻ tội đồ kia — kẻ đã bỏ mạng dưới hố công trường khi đang lang thang trong mưa. Đã vậy, hắn còn bị dồn đuổi đến bước đường cùng bởi Sunekosuri, linh hồn của những chú chó mà chính tay hắn đã sát hại.
Gieo nhân nào gặt quả nấy. Ác giả ác báo. Cái chết của hắn có lẽ là minh chứng sống động nhất cho những lời răn dạy ấy... ít nhất là theo quan điểm của tên ác quỷ vừa ra tay thi hành bản án từ địa ngục.
"Mẹ kiếp!" Seiji lẩm bẩm, rồi lại lên cơn ho rũ rượi không dứt.
Sự mệt mỏi cộng với cơn đau đầu khiến tâm trí anh mụ mẫm. Nhưng sâu thẳm bên trong, Seiji lại muốn gào thét thật to cho bõ tức. Có điều, giờ đây dù có chửi bới ai đi nữa thì cũng chẳng giải quyết được gì.
Hắn ta đã chết. Chết là hết, chẳng gì có thể thay đổi được sự thật đó.
"Chết tiệt thật," Seiji chửi thầm, rồi nằm vật xuống sàn.
Đúng lúc đó, chiếc ghế bành bên cửa sổ lọt vào tầm mắt anh. Chiếc ghế bọc da sang trọng, từng là vật báu của một ai đó. Có lẽ, đó chính là chỗ ngồi quen thuộc của Ibara Rindou.
...Hửm?
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Seiji.
Có điều gì đó không ổn. Anh chắc chắn như vậy. Dù không thể chỉ đích xác là cái gì, nhưng một cảm giác bất an cực độ bủa vây lấy anh, khiến tim đập liên hồi. Một linh tính chẳng lành mách bảo rằng anh không nên nán lại nơi này thêm giây phút nào nữa. Cảm giác đó ngày càng rõ rệt, khiến tóc gáy anh dựng đứng.
Căng thẳng, lo âu và sợ hãi.
Cùng lúc đó, một cảm giác déjà vu kỳ lạ ập đến. Nó gần giống như... đúng rồi, giống hệt cảm giác trước khi vụ cháy rừng xảy ra đêm đó, khi anh rời bỏ ngôi đền hoang một mình.
Cảm giác như có ai đó đang dõi theo mình. Như đôi mắt không bao giờ chớp của một con rắn đang nhìn chằm chằm, muốn nuốt chửng lấy anh.
"Này... tôi thấy cái ghế kia có gì đó kỳ lắm," Seiji lên tiếng, dù chính anh cũng không biết mình đang muốn diễn đạt điều gì. Anh chỉ tay về phía chiếc ghế bành. "Nhìn kỹ mà xem, có một chỗ trên lưng ghế từng bị rách, rồi được khâu lại bằng chỉ cùng màu một cách cẩu thả. Chuyện này... thật sự không giống phong cách của anh chút nào."
Seiji thử đặt mình vào vị trí của Odoro để suy ngẫm.
Nếu Shiroshi không bao giờ trở lại, và chiếc ghế của cậu ấy trở thành một kỷ vật... liệu Seiji có đủ can đảm để tự tay cầm kim khâu vá lại một cách vụng về như thế không?
Không đời nào.
Anh sẽ hoặc là để nguyên như vậy, hoặc là đem ra tiệm sửa sang lại cho tử tế.
Hơn nữa, Odoro vốn có thói quen tránh nhìn vào chiếc ghế đó. Dù có bị kề dao vào cổ, anh ta cũng chẳng bao giờ chạm tay vào nó.
Vậy thì — chính vì thế mà nảy sinh vấn đề. Bởi vì hiện tại, ở văn phòng này chỉ có mỗi mình Odoro mà thôi.
"Vậy thì ai đã vá nó?"
Odoro đang lắng nghe với vẻ nghi hoặc, nhưng khi nghe câu hỏi này, gương mặt anh ta bỗng biến sắc, lộ rõ vẻ dao động dữ dội. Anh ta vồ lấy con dao rọc giấy trên bàn, lao đến chiếc ghế bên cửa sổ và rạch mạnh vào chỗ vừa được vá. Một vật thể rơi ra từ bên trong: một chiếc hộp đen nhỏ xíu. Trông nó giống hệt loại thiết bị nghe lén cực kỳ tinh vi thường thấy trong phim ảnh.
"Từ bao giờ...?" Odoro thảng thốt lẩm bẩm.
Ngay lúc đó, một tiếng két khẽ vang lên. Một phần kệ tài liệu phía sau phòng làm việc từ từ xoay ra, giống như một cánh cửa bí mật — không, chính xác nó là một cánh cửa bí mật.
"Cái gì?"
Một chàng trai lạ mặt bước ra từ đó.
Dù trong bóng tối, mái tóc trắng dài ngang vai của hắn vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng đẹp đẽ. Phía sau lớp tóc mái dài, đôi mắt hổ phách nhìn chằm chằm đầy vẻ quen thuộc.
Khoác trên mình chiếc áo choàng Inverness tối màu, vóc dáng mảnh khảnh của hắn trông giống một nhà ảo thuật hơn là thám tử. Có lẽ vì dù khá cao nhưng ở hắn lại toát ra một nét gì đó rất thanh mảnh, nữ tính.
Mỏng manh, tinh tế và dịu dàng.
...Nhưng đồng thời, hắn cũng mang một vẻ đẹp sắc lạnh, chết người của một kẻ săn mồi. Và trên tay hắn, là một khẩu súng săn đầy tử khí.
Đôi mắt Odoro mở to đến mức tưởng như sắp rách cả khóe mi, anh ta đứng hình như một bức tượng. Cuối cùng, đôi môi run rẩy của anh ta cũng mấp máy.
"Ibara."
Tiếng gọi như thể vọng về từ vực thẳm. Người anh em song sinh của anh ta, kẻ đáng lẽ ra đã chết.
Như để đáp lại, khẩu súng trên tay "bóng ma" ấy từ từ nâng lên. Hắn tháo chiếc tai nghe dường như đang kết nối với thiết bị nghe lén vừa tìm thấy, rồi lạnh lùng thốt lên:
"Ngươi cản đường quá."
Đoàng! Một tiếng nổ chói tai vang lên.
Một làn sương đỏ tươi rùng rợn bung nở như một đóa hoa. Ngón tay nhợt nhạt của hắn đã bóp cò một cách dứt khoát như lưỡi dao của máy chém.
Không gian chìm vào tĩnh lặng trong vài giây.
Odoro loạng choạng lùi lại rồi đổ gục xuống sàn. Vai trái anh ta bị bắn nát, máu sẫm màu tuôn ra xối xả. Viên đạn không phải là đạn chùm, nên chỉ có một vết thương duy nhất, nhưng máu không có dấu hiệu ngừng chảy. Chẳng có gì lạ: vết thương quá lớn, trông chẳng khác nào một cái hố sâu trên vai.
Ibara nhìn xuống nạn nhân của mình bằng ánh mắt ngạo mạn, rồi thản nhiên lau vệt máu của người anh em bắn lên má mình. "Ngươi biết là ta chưa bao giờ giỏi việc khâu vá mà. Nhưng đó là nơi duy nhất ta chắc chắn ngươi sẽ không bao giờ tìm thấy. Dẫu sao thì, chiếc ghế đó là kỷ vật của ta. Ta biết một kẻ ủy mị như ngươi thậm chí còn chẳng dám nhìn thẳng vào nó."
Giọng hắn nhỏ như hơi thở, đều đều không chút cảm xúc, như thể đang ngâm một bài thơ. Hắn nhìn Odoro qua đôi mắt khép hờ, lộ rõ vẻ chán chường.
"Dù là em trai ta, nhưng ngươi thật thảm hại. Mà thôi, thế mới đúng là ngươi." Hắn chậm rãi cúi xuống, túm lấy mớ tóc sau gáy Odoro và kéo mạnh lên, ép mặt anh ta lại gần mình. "Ngươi vẫn chẳng thay đổi gì cả. Với kẻ mạnh thì không chút nương tay, nhưng lại chẳng thể ngó lơ trẻ con hay người già, đặc biệt là cực kỳ yếu lòng trước động vật. Đó là lý do ta tìm 'vị khách' đó cho ngươi. Ta biết chắc chắn ngươi sẽ ra tay, dù có phải phớt lờ mệnh lệnh của Bộ Diêm Ma đi chăng nữa. Bởi vì hôm nay, ta có chút việc riêng bên ngoài cần phải giải quyết."
Hóa ra bà Suzu đã nhận được danh thiếp từ chính Ibara hoặc đồng bọn của hắn. Thậm chí, chính Ibara là kẻ đã gợi ý bà đến văn phòng thám tử hôm nay.
Không, nhưng mà... chẳng phải hắn đã chết rồi sao? Seiji hoang mang tột độ.
Odoro bật ra một tiếng ho khục khặc, máu trào ra từ miệng. Đáng lẽ lúc này anh ta chỉ còn đủ sức để thở dốc, vậy mà đôi môi nhợt nhạt ấy vẫn mấp máy; trong khoảnh khắc, dường như anh ta đã quên bẵng nỗi đau đớn thể xác.
"...Ibara?"
Nụ cười trên môi người anh em song sinh càng thêm đậm.
"Nếu có thể, ta ước mình không bao giờ phải nghe ngươi gọi tên ta thêm lần nào nữa."
Dứt lời, hắn đứng thẳng dậy, dùng giày dẫm nghiến lên vết thương đầy máu của Odoro. Tiếng xương vỡ vụn răng rắc vang lên, Odoro gào lên đau đớn như tiếng tru của một con thú đang hấp hối.
Nhìn người anh em cuối cùng cũng ngất đi vì đau đớn, trong mắt Ibara thoáng hiện lên một thứ gì đó giống như sự thương hại. Rồi, với một tiếng cạch khô khốc, hắn kéo cần súng.
Vỏ đạn cũ văng ra... và một viên đạn mới đã lên nòng.
"K-không, dừng lại! Làm ơn dừng lại!" Seiji thốt lên theo bản năng. Anh lao đến bên Odoro, vội vã tìm trong túi áo khoác của anh ta một chiếc khăn tay rồi ấn chặt vào vết thương trên vai. Dù chẳng thấm tháp gì so với lượng máu đang chảy, nhưng có còn hơn không.
...Về lý mà nói, anh chẳng quan tâm gã này có chết hay không.
Nhưng mà...
Gã đã trân trọng chiếc ghế mà người anh để lại đến thế, vậy mà giờ lại ra nông nỗi này? Bị chính người mình thương yêu nhất bắn chết... Không. Chuyện này quá nghiệt ngã.
"Ra vậy. Ngươi đúng là một con chó ngu ngốc đến ấn tượng đấy," Ibara bất ngờ nheo mắt lại. Hắn chuyển khẩu súng sang tay trái, giơ tay phải lên một cách thản nhiên như định xua đuổi một con ruồi.
"Cút ra chỗ khác."
Cánh tay hắn bắt đầu hạ xuống, nhắm thẳng vào mặt Seiji, và rồi...
"Hả?"
...một vật gì đó bay tới đập trúng tay Ibara. Khi Seiji nhìn kỹ lại, đó là một chiếc ủng da màu đen vô cùng quen thuộc.
Lại là cảm giác déjà vu.
Chẳng phải ba tháng trước anh cũng từng trải qua một tình cảnh tương tự sao? Tiếng bước chân từ cầu thang xoắn ốc bên trái càng khiến sự liên tưởng này thêm chắc chắn.
"Chà, cảnh tượng này còn khó coi hơn cả những gì tôi tưởng tượng đấy."
Cái giọng nói ấy nữa, uy nghiêm và thanh tao như một đóa bạch mẫu đơn đang kỳ nở rộ.
"Đã lâu không gặp, Ibara. Cả cậu nữa, Seiji."
Điều tiếp theo Seiji nhận thấy là một tấm lưng nhỏ nhắn màu trắng đang chắn trước mặt mình.
Ngay tại đây, chỉ cách nửa bước chân, như một tấm lá chắn bảo vệ anh.
Là Shiroshi.
"T-tại sao...?" Anh định hỏi, nhưng giọng nói phát ra nghe như người đang mê sảng.
Shiroshi nhanh chóng quay lại, đưa ngón trỏ lên môi ra hiệu giữ im lặng. Cậu ấy muốn anh im lặng? Hay ý là "Cứ để đó cho tôi"?
Trong khi đó, Beniko đã bắt đầu sơ cứu cho cơ thể đầy máu của Odoro.
...Vì một lý do nào đó, ngay khi Seiji nhen nhóm hy vọng rằng Odoro có thể sống sót, anh đột ngột không còn quan tâm đến gã nữa.
Ibara gác họng súng lên vai, nghiêng đầu nhìn như một chú chim. "Mới có ba ngày thôi nhỉ?"
"Phải, có vẻ như các quân cờ đều đã vào vị trí, nên tôi mạn phép 'sống lại' một chút."
Đó là một cảnh tượng kỳ lạ.
Đen.
Trắng.
Hai con người đối mặt nhau từ xa, trông giống như hai thái cực đối lập, nhưng cũng tương đồng đến lạ lùng. Cứ như thể họ là hình ảnh phản chiếu của nhau qua gương vậy.
Shiroshi nghiêng đầu sang hướng khác. "Anh không định nói 'Nhưng lẽ ra ngươi phải chết rồi chứ' sao?"
"Với tư cách là kẻ phản diện, có lẽ ta nên nói vậy nhỉ? Nhưng ta luôn có cảm giác ngươi vẫn chưa chết. Thành thật mà nói, kẻ mà Kazutora giết chết thực sự quá dễ dàng."
"Tôi hiểu rồi. Và đó là lý do anh ẩn mình kỹ đến thế?"
Họ đang nói về cái gì vậy? Seiji hoàn toàn mù tịt.
"Để tôi kể cho anh nghe chuyện gì đã xảy ra sau khi anh giết tôi nhé. Thực tế, tôi đã trở về an toàn từ ba ngày trước, ngay trong ngày xảy ra vụ cháy rừng. Những tội ác của anh đã bị phơi bày ngay khi anh để tôi thoát khỏi tầm tay. Suốt ba ngày qua, tôi đã phối hợp với Bộ Diêm Ma để truy tìm anh. Chúng tôi giữ kín việc tôi đã trở lại, biến cuộc tìm kiếm anh thành cuộc tìm kiếm tôi."
Cái gì cơ?
"Takamura đã báo với cậu rằng Đại Vương Diêm Ma đã đích thân chỉ huy cuộc tìm kiếm kẻ chủ mưu, đúng không Seiji? Đội biệt phái đó thực chất mới là lực lượng chính. Nói cách khác, đây không phải là một cuộc tìm kiếm tội phạm, mà là một cuộc săn cáo."
Hóa ra người bị săn đuổi bấy lâu không phải là Shiroshi hay Seiji, mà chính là Ibara — kẻ lẽ ra phải là thợ săn.
Tuy nhiên...
"Dù chúng tôi có tìm kiếm thế nào, cũng không thể lần ra dấu vết của anh. Cho đến hôm nay, tôi chợt nảy ra một ý nghĩ. Tuy tôi chẳng muốn chút nào, nhưng nếu anh và tôi có những điểm tương đồng, thì có lẽ chúng ta sẽ chọn những nơi ẩn náu giống nhau. 'Dưới chân đèn bao giờ cũng tối nhất', có lẽ anh đã quay lại nơi mà anh thân thuộc nhất."
À, thì ra là Văn phòng Thám tử Rindou.
"Vì vậy."
"Hả?"
Bất ngờ, Shiroshi làm một hành động không ai ngờ tới.
Cậu thò tay vào túi áo khoác của Seiji, lấy ra bao thuốc lá của anh. Đó chính là bao thuốc mà anh đã tìm thấy mảnh giấy viết tay. Khi Shiroshi dốc ngược bao thuốc và vỗ nhẹ vào đáy, một vật nhỏ rơi ra lòng bàn tay cậu: một thiết bị nghe lén còn tinh vi và nhỏ gọn hơn cái trên ghế.
"Ôi," Seiji giật mình thốt lên.
"Làm ơn hãy ghé qua văn phòng thám tử của Odoro và ở lại đó càng lâu càng tốt."
Shiroshi đã thông qua Beniko đưa ra chỉ dẫn đó cho Seiji, mục đích là để anh đến nơi mà cậu nghi ngờ Ibara đang ẩn náu, đóng vai trò là "đôi tai" của cậu.
À, đúng rồi. Mình quên khuấy mất.
Phải rồi — bày mưu tính kế vốn là sở trường của Shiroshi mà.
"Như người ta thường nói, 'Con rắn bị đánh dở sống dở chết sẽ quay lại cắn ngươi'. Nếu anh đẩy ai đó vào cảnh khốn cùng mà không kết liễu được họ, họ sẽ trả thù sau đó — và đó chính xác là những gì đang xảy ra với anh lúc này."
Nhân vật chính của cuộc lật đổ ngoạn mục này mỉm cười rạng rỡ như một đóa bạch mẫu đơn. "Anh có nhớ tôi đã nói gì trước đây không? 'Theo nguyên tắc, tôi chỉ chiến đấu với những đối thủ mà tôi biết chắc mình có thể đánh bại'. Lẽ tự nhiên, trong đó bao gồm cả anh, Ibara." Cậu nghiêng đầu, trông trẻ con vô cùng. "Xin lỗi nếu lời này làm anh phật lòng. Tôi chỉ đang là chính mình mà thôi," gương mặt cậu hiện rõ vẻ của kẻ thắng cuộc.
"...Ồ, vậy sao?" Ibara thì thầm. Giọng hắn trầm xuống, không khí bỗng chốc căng như dây đàn.
Ngón tay hắn chạm vào cò súng, và trước khi Seiji kịp định thần, họng súng đã hất ngược lên nhắm thẳng vào Shiroshi. Khoảng cách quá gần, tốc độ quá nhanh — không còn thời gian để chạy nữa.
Đoàng! Một tiếng súng vang lên.
Với một tiếng nổ khô khốc, viên đạn cày nát sàn nhà... ngay dưới chân Ibara Rindou.
Đôi mắt hắn mở to kinh ngạc.
Chỉ một tích tắc trước khi khẩu súng săn kịp khai hỏa, một phát súng từ ngay phía trước đã làm văng những mảnh gỗ sàn ngay dưới chân hắn.
"À, tôi mượn cái này của Odoro lúc lấy khăn tay trong túi áo anh ta đấy," Seiji nói.
Bước lên chắn trước Shiroshi — người cũng đang mang vẻ mặt ngạc nhiên hiếm thấy — Seiji chĩa thẳng khẩu súng lục mà Odoro mang theo để tự vệ về phía Ibara. Vẫn giữ nguyên họng súng đe dọa, Seiji lườm hắn. "Phát tiếp theo sẽ không phải là cảnh cáo đâu."
Để nổ được phát súng đó, anh đã phải vận dụng tất cả những kiến thức lờ mờ lượm lặt được từ mấy cuốn tạp chí đọc ké ở cửa hàng tiện lợi. Nhưng viên đạn đã trúng sàn nhà một cách chính xác, ngay dưới chân Ibara.
Trong mắt người ngoài, đó hẳn là một phát súng cảnh cáo đầy bản lĩnh để kiềm chế đối phương.
Phải, trông nó đúng là như vậy.
"Cậu thực sự định bắn vào đâu thế?" Shiroshi thì thầm hỏi.
Vào đầu hắn, Seiji mấp máy môi không thành tiếng.
"...Tôi hiểu rồi. Lần tới cứ để tôi."
Thế thì tốt quá! Trong thâm tâm Seiji, áp lực từ việc phải bắn phát thứ hai khiến anh muốn trào nước mắt. Nhưng ngay khi anh đang thầm thở phào nhẹ nhõm...
"Hê... hê hê."
...Ibara bắt đầu cười khúc khích. Nghe như thể hắn đang cảm thấy rất thú vị, rất giải trí. Nhìn vào mắt hắn, người ta sẽ tưởng như hắn đang xem một con chó làm trò xiếc cho chủ nhân xem.
"Ra vậy. Ngươi đúng là một con chó ngu ngốc. Nhưng ta đoán, điều đó có nghĩa là ngươi và chủ nhân của ngươi rất hợp nhau đấy." Ibara liếc nhìn Odoro, rồi quay lưng bước về phía cầu thang xoắn ốc, như thể đã mất hết hứng thú.
"Anh thực sự định đạt được điều gì?" Shiroshi gọi với theo.
Bóng ma tóc trắng ngoảnh lại nở một nụ cười đầy ma mị.
"Điều đó chẳng phải đã quá rõ ràng ngay từ đầu rồi sao?"
Hắn chỉ nói bấy nhiêu rồi tan biến như một bóng ma trong đêm tối.
Chỉ còn lại sự tĩnh lặng bao trùm, giống như sự im lìm sau khi cơn gió đã tắt. Beniko đã hoàn thành việc sơ cứu cho Odoro, và một chút sắc hồng dường như đang trở lại trên gương mặt anh ta.
Mọi chuyện, cuối cùng cũng kết thúc.
"Này, Shiro..." Seiji định gọi tên cậu thiếu niên, nhưng cổ họng anh nghẹn đắng lại. Lồng ngực thắt chặt, khí quản co thắt. Dù vậy, khi anh cố gắng mấp máy môi, cái tên ấy vẫn thốt ra, mang theo bao nỗi hoài niệm của những năm tháng đã qua. "...Shiroshi."
"Hửm?"
"Cậu... thực sự là cậu phải không?"
"Phải."
Seiji thở phào nhẹ nhõm — nhẹ nhõm đến mức đôi chân không còn sức lực, anh ngồi bệt xuống sàn ngay tại đó.
"Chà chà." Mỉm cười dịu dàng, Shiroshi xoa đầu anh. Seiji cảm thấy sống mũi cay cay và đôi mắt nhòe đi, anh khẽ cắn môi.
Nhưng lúc này, chỉ cần bàn tay của Shiroshi ở đó, Seiji cảm thấy mình có thể chịu đựng được bất cứ điều gì.
Shiroshi vẫn còn sống. Cậu ấy đang ở ngay đây, bên cạnh anh.
"Nào, chúng ta nên đi thôi... Cậu đứng dậy nổi không?" Shiroshi đưa tay ra, và Seiji nắm lấy. Bàn tay ấy nhợt nhạt như xương trắng hay sáp nến, nhưng lại mang một hơi ấm con người sống động.
Dù cho nó không thuộc về một con người bình thường như anh.
"Về nhà thôi chứ, Seiji?"
"Ừ!"
Seiji bước theo sau tấm lưng nhỏ bé của Shiroshi. Anh vẫn giữ khoảng cách nửa bước chân phía sau, giống như mọi khi.
"Cho ta hỏi ngươi một điều cuối cùng. Ngay lúc này, điều ngươi mong muốn nhất là gì?"
Gã cảm thấy như mình nghe thấy ai đó hỏi câu đó, ngay trước khi lịm đi. Người hỏi là một cậu bé tóc đen, mặc một bộ đồ giống như áo liệm cho người chết.
Thì ra đây chính là Cái Chết sao? Kazushi nghĩ vậy và trả lời cậu bé. Dù cho đây có là lần cuối cùng gã tự nói chuyện với chính mình, gã cũng chẳng bận tâm.
Khi mở mắt ra lần nữa, gã thấy mình đang nằm trên giường bệnh trong một phòng bệnh.
Tại sao mình lại còn sống? gã tự hỏi. Nhưng theo lời bác sĩ và y tá, gã đã thực sự bị chấn thương rất nặng. Họ nói rằng nếu gã được báo cáo chậm chỉ một phút thôi, gã đã chết chắc rồi.
Có ai đó đã gọi xe cứu thương cho gã. Người gọi nghe giọng giống như một cậu bé, nhưng cho đến giờ vẫn không ai biết đó là ai.
Có vẻ như khuôn mặt quấn đầy băng gạc của gã sẽ không bao giờ trở lại như xưa. Họ cũng không chắc liệu tóc có thể mọc lại ở vết thương sau đầu hay không.
Hai tuần sau khi nhập viện, Kazushi lén trốn ra ngoài và đi thẳng đến đồn cảnh sát. Không phải gã không có cách nào trả viện phí, mà là gã muốn tự thú.
Gã đã đánh gãy răng một đứa trẻ cấp hai đang đi săn người vô gia cư.
Gã đã đột nhập trái phép vào nhà bà Suzu không biết bao nhiêu lần, và gã đã giết chết năm con chó.
Gã không biết những tội danh đó sẽ phải nhận án tù bao nhiêu lâu. Nhưng đó là tội ác. Điều đó là không thể chối cãi.
Và rồi...
...Kazushi thấy mình đứng trong công viên đó.
Ánh nắng mùa thu rực rỡ đổ xuống chiếc ghế băng, lá rụng phủ đầy mặt đất như một tấm thảm lốm đốm màu sắc. Khi hít một hơi thật sâu, gã cảm thấy không khí có mùi của ánh sáng.
Hình bóng mà gã hằng tìm kiếm đang ở đó. Bà Suzu đang ngồi trên ghế băng, gật gù ngái ngủ, chiếc xe đẩy với chiếc túi họa tiết hoa đặt bên cạnh.
Kazushi cảm thấy cổ họng nghẹn lại. Gã nhận ra mình đang cắn môi. Ngay cả gã cũng không biết tại sao sau chừng ấy thời gian, gã lại quay lại nơi này.
Nhưng...
Gã tiến lại gần chiếc ghế băng, lá khô xào xạc dưới chân. Bà Suzu ngước mắt nhìn lên. Bà chớp mắt chậm rãi, giống như một con mèo đang sưởi nắng.
Ánh mắt họ gặp nhau.
Mình phải nói gì đó, gã nghĩ, nhưng đôi môi gã chỉ biết run rẩy. Cổ họng khô khốc, gã không thể phát ra âm thanh nào. Tim gã đập loạn nhịp như bị rối loạn nhịp tim, và mồ hôi bắt đầu thấm đẫm nách.
"Hôm nay trời đẹp quá nhỉ?" bà Suzu nói. Ánh mặt trời không quá gắt, nhưng bà vẫn nheo mắt lại như thể bị lóa.
Bà ấy không nhận ra mình, gã nghĩ.
Bà không hề ghi nhớ ai đang đứng trước mặt mình. Ánh mắt bà nhìn về phía gã một cách mơ hồ; bà thậm chí có thể không nhận ra có người đang đứng đó.
Gã đã nghĩ như vậy, nhưng...
"Hả?"
Bất ngờ, bà Suzu quỳ hẳn xuống ghế băng và cúi đầu thật thấp trước mặt gã. Bà chạm trán xuống lớp sơn đang bong tróc, hết lần này đến lần khác. Đôi bàn tay bà run rẩy, những nếp nhăn trên đó thậm chí còn sâu hơn cả lúc trong bóng tối dưới ánh đèn ngủ đêm đó.
"Bà xin lỗi. Bà thực sự xin lỗi. Bà đã làm mất Chi rồi. Dù cho nó quan trọng với con đến thế. Dù cho bà đã rất hạnh phúc vì con đã tin tưởng bà, và vì bà có thể giúp được con. Bà xin lỗi." Bà xin lỗi, bà lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần.
"...Ôi."
Kazushi cố gắng nói, nhưng lời nói vẫn không thể thoát ra.
Chẳng lẽ... bà Suzu đã tìm kiếm Chi một cách tuyệt vọng như vậy là vì bà muốn chăm sóc nó thay gã sao?
Cuối cùng cũng có người tử tế đến mức tin tưởng vào bà, bà nói. Cuối cùng bà cũng có thể giúp đỡ một ai đó.
Kazushi hiểu rõ hơn ai hết cảm giác đau đớn khi không ai cần đến mình, cuộc đời cảm thấy cô độc và vô nghĩa đến nhường nào. Nếu bà Suzu cũng giống gã...
Chi đột ngột biến mất, và bà Suzu đã đi tìm, đi tìm mãi.
Suốt thời gian đó, bà đã thầm xin lỗi Kazushi.
Nếu chính điều đó đã bào mòn bà đến mức này...
Đừng nói với mình là...
Khi bà bắt đầu nhìn thấy những con chó hoang chẳng hề giống Chi mà vẫn gọi là Chi... Khi chứng mất trí nhớ của bà trở nên tồi tệ đến mức khiến điều đó xảy ra...
Tất cả có phải là lỗi của Kazushi không?
Trong khoảnh khắc đó, gã cảm thấy một thứ gì đó bên trong mình vỡ vụn.
Mắt gã nhòa đi. Đôi chân không còn sức lực, gã ngã quỵ xuống đất. Nước mũi chảy xuống cổ họng, gã nghẹn ngào hết lần này đến lần khác. Phải mất một lúc lâu gã mới nhận ra mình đang khóc.
"C-con... xin lỗi!" gã gào lên, đôi vai run rẩy, nức nở như một đứa trẻ. Gã áp trán xuống đất, lặp đi lặp lại những lời đó với một cường độ tưởng chừng như muốn xé toạc cổ họng.
Cuối cùng Kazushi đã nhớ ra. Khi cậu bé mặc kimono trắng hỏi gã: "Ngay lúc này, điều ngươi mong muốn nhất là gì?", gã đã chỉ đơn giản trả lời: "Tôi muốn xin lỗi."
Dù gã biết lời xin lỗi chẳng giúp ích được gì. Dù gã biết mình sẽ không bao giờ được tha thứ, rằng mọi thứ đã vỡ nát không cách nào cứu vãn.
Dù vậy, sự thật là gã đã luôn, luôn muốn nói lời xin lỗi.
Kể từ khi gã đứng chôn chân trước hiên nhà cũ, trong bộ đồng phục, bàn tay đẫm mồ hôi siết chặt chiếc cặp sách.
Con xin lỗi vì con không thể làm tốt được.
Con xin lỗi vì con không thể sống một cách bình thường.
Con xin lỗi vì con là một kẻ như thế này.
Con đã làm mẹ không hạnh phúc. Con đã đánh mẹ.
Con đã làm chúng chết. Con đã giết chúng.
"...Con... xin lỗi."
Kazushi lặp đi lặp lại cho đến khi cổ họng khản đặc. Đến một lúc nào đó, gã nhận ra bà Suzu đã cúi xuống bên cạnh gã.
Bàn tay ấm áp của bà đang vỗ về lưng gã. Bàn tay gầy guộc, nhăn nheo ấy vuốt ve gã một cách chậm rãi, hết lần này đến lần khác, giống như bà đã từng vuốt ve Chako.
Như thể bà đang nâng niu một thứ gì đó yếu ớt và quý giá.
Gã không còn biết nói gì khác ngoài lời xin lỗi. Ngay cả khi những lời đó chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
Dù vậy, bàn tay trên lưng gã thật ấm áp.
Ít nhất thì... con vẫn còn sống.
Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!
